Chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút, dẹp yên Xiêm La 

Năm 1783, chúa Nguyễn Phúc Ánh sau nhiều trận đại bại đã quyết định đem hết tàn binh của mình cầu viện Xiêm La, một đế quốc láng giềng đang thời hùng mạnh, quyết giành lại giang sơn bằng mọi giá.

Người Xiêm vốn cũng là những kẻ cơ hội lọc lõi, đầu tiên họ vốn muốn đứng ngoài cuộc làm “ngư ông đắc lợi” cho cuộc chiến Nguyễn – Tây Sơn. Hơn nữa bên phía Nguyễn Nhạc cũng có động thái muốn hòa hoãn với Xiêm La để rảnh tay bình định trong nước bởi Tây Sơn không muốn có thêm một kẻ địch mạnh. Do đó Nguyễn Nhạc đã cử sứ giả đến Bangkok gặp vua Xiêm La Rama I. 

Nhưng tháng 12 năm 1783, phò mã Trương Văn Đa của Tây Sơn theo lời cầu cứu của Nặc Ấn đã đem quân sang Chân Lạp tấn công viên tướng Chiêu Thùy Biện (Chao Phraya Abhaya Bhubet – Nhiếp chính vương Chân Lạp do Xiêm ủng hộ) và đụng độ quân Xiêm ở đó. Vì thế mà vua Xiêm đã lựa chọn động binh giúp chúa Nguyễn vừa để giành lại ảnh hưởng ở Chân Lạp và vừa muốn chiếm Nam Bộ.

Tháng 4 năm 1784, vua Xiêm Rama I phái hai tướng Lục Côn và Sa Uyển cùng với Chiêu Thùy Biện, đem hai đạo bộ binh tiến sang Chân Lạp để từ đó, mở một mũi tiến công đánh phối hợp. Tổng quân số của liên quân Xiêm Nguyễn khoảng 2 vạn người.

“… Vào tháng 5 (lịch Xiêm, khoảng tháng 3 dương lịch) của năm Thìn (Giáp Thìn 1784), nhà vua sai cháu là Chaofa Kromluang Thepharirak chỉ huy một đội chiến thuyền và 5,000 quân, phát lệnh tấn công và tái chiếm – không được thất bại – lãnh thổ Sài Gòn cho Ong Chiang Su (chúa Nguyễn). Nhà vua cũng cho phép đích thân Ong Chiang Su đi theo cùng đoàn quân. Một toán quân đường bộ do Phraya Wichinarong chỉ huy được lệnh tiến theo đường Cam Bốt và điều động thêm một đoàn quân Cao Miên. Chaophraya Aphaiphubet tuyển thêm một lực lượng 5,000 quân Cam Bốt để đi cùng quân Thái”.

(Nguyễn Duy Chính – trích từ tài liệu lịch sử của Xiêm La).  

Tháng 7 năm 1784, thủy quân Xiêm đổ bộ lên đánh lấy Rạch Giá (thuộc đạo Kiên Giang), tiến đánh quân Tây Sơn của Đô đốc Nguyễn Hóa ở Trấn Giang (Cần Thơ), tiến chiếm các miền Ba Thắc (Srok Pra-sak, Sóc Trăng), Trà Ôn, Sa Đéc, Mân Thít rồi chia quân đóng giữ. Xét thấy quân ít không chống chọi được, phò mã nhà Tây Sơn là Trương Văn Đa cho quân lui về giữ Long Hồ. Quân Xiêm đi đến đâu cướp bóc đến đó; Nguyễn Ánh dù bất bình nhưng không can thiệp được vì họ (quân Xiêm) cậy mình là kẻ cứu giúp nên đàn áp, cướp bóc nhân dân, khinh mạn cả chúa Nguyễn và quân Nguyễn.

Tháng 7 năm 1784, thủy quân Xiêm đổ bộ lên đánh lấy Rạch Giá. (Ảnh chụp màn hình Youtube)

Lần này kể cả Nguyễn Ánh cũng phải hối hận vì quyết định của mình:

“Vua thấy quân Xiêm tàn bạo, đến đâu là cướp bóc đấy, nhân dân ta oán rất nhiều, bảo các tướng rằng: “Muốn được nước phải được lòng dân. Nay Chu Văn Tiếp đã mất, quân Xiêm không ai chế ngự được. Nếu được Gia Định mà mất lòng dân thì ta cũng không nỡ làm. Thà hãy lui quân để đừng làm khổ nhân dân.” 

(Theo: Đại Nam Thực Lục).

Trương Văn Đa gửi tin cáo cấp về Quy Nhơn, Thái Đức Hoàng đế cử Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ dẫn quân vào đánh quân Xiêm. Đầu năm 1785, quân đội Tây Sơn đã có mặt ở miền Nam.

Với quân số ít hơn, Nguyễn Huệ quyết định dùng chiến thuật mai phục và tập kích – nhanh mạnh bằng hỏa lực lớn, là điều mà ngày nay gọi là “hỏa khí phân tán, hỏa lực tập trung”. Ông chọn khúc sông Rạch Gầm, Xoài Mút làm địa điểm quyết chiến. Nguyễn Huệ tổng chỉ huy chiến dịch và trực tiếp thống lĩnh thủy binh, Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân phụ trách bộ binh mai phục.

Sau khi sắp đặt xong mọi thứ, Nguyễn Huệ cử binh đi khiêu chiến quân Xiêm. Tướng Xiêm là Chiêu Tăng giao Sạ Uyển ở lại giữ đại bản doanh, cử tướng Lục Cổn dẫn bộ binh men theo tả ngạn sông Tiền để cùng phối hợp; còn ông cùng với tướng tiên phong là Chiêu Sương, dẫn hàng trăm thuyền chiến tiến xuống Mỹ Tho, nơi đặt đại bản doanh của Tây Sơn.

Đêm ngày 18 tháng 1 năm 1785, cả hai đạo thủy bộ quân Xiêm cùng rầm rộ tấn công.

Đến khoảng đầu canh năm ngày 19 tháng 1 năm 1785, đoàn thuyền chiến của địch lọt vào trận địa mai phục của quân Tây Sơn ở Rạch Gầm-Xoài Mút, tức thì pháo lệnh tấn công của Tây Sơn nổ vang. Các đội thủy binh Tây Sơn từ Rạch Gầm, Xoài Mút bất ngờ lao ra, chặn đánh hai đầu, dồn quân địch vào vòng vây đã bố trí sẵn. Đồng thời, từ hai bờ sông Tiền (đoạn Rạch Gầm-Xoài Mút) và dọc bờ cù lao Thới Sơn, bãi Tôn, cồn Bà Kiểu, Rừng Dừa… các đại bác cùng pháo hỏa hổ của bộ binh Tây Sơn bắn ra dữ dội vào giữa đoàn thuyền địch lúc bây giờ đang bị dồn lại. Dưới sự đốc chiến trực tiếp của Nguyễn Huệ, quân Tây Sơn thủy bộ phối hợp cùng nhau tận dụng sự chi viện của hỏa lực đại bác số lượng vượt trội trên bờ bắn xuống tiêu diệt gần như toàn bộ thủy quân Xiêm. Lục quân Xiêm trên bờ cũng bị tập kích bất ngờ bởi đạo kỳ binh do vợ chồng Bùi Thị Xuân chỉ huy. Vừa sợ hãi vừa rối loạn nên đoàn quân bộ của Xiêm-Nguyễn cũng mau chóng bị tiêu diệt, Bùi Thị Xuân với kiếm pháp tuyệt luân của mình đã chém bay đầu Lục Cổn tại trận.

Trời vừa rạng sáng, thì chiến cuộc cũng vừa dứt. Kết quả là 300 chiến thuyền và 2 vạn thủy binh của Xiêm cùng một số quân của chúa Nguyễn, không đầy một ngày, đã bị quân Tây Sơn phá tan. Hai tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương chạy trốn về Sa Đéc, bị truy kích, lại hối hả cùng Sa Uyển dẫn vài nghìn tàn quân chạy bộ sang Chân Lạp rồi về Xiêm.

Chính sử nhà Nguyễn dẫu không công nhận nhà Tây Sơn, nhưng vẫn phải nhận xét về cuộc chiến này như sau:

“… Quân Xiêm (từ sau khi thua trận Rạch Gầm–Xoài Mút) tuy ngoài miệng thì nói khoác nhưng trong bụng thì sợ Nguyễn Huệ như sợ cọp”. (Trích: Đại Nam thực lục).

Trời vừa rạng sáng, thì chiến cuộc cũng vừa dứt. Kết quả là 300 chiến thuyền và 2 vạn thủy binh của Xiêm cùng một số quân của chúa Nguyễn, không đầy một ngày, đã bị quân Tây Sơn phá tan. (Ảnh Shutterstock)

Vỗ yên Vạn Tượng, Miến Điện kết minh

Đoàn tượng binh do đích thân Bùi Thị Xuân lãnh đạo đã trở thành lực lượng chủ lực quan trọng đem đến nhiều chiến thắng cho quân đội Tây Sơn. Hình tượng vua Quang Trung oai dũng trên bành voi chiến trong trận công thành Thăng Long năm 1789 đã đi vào lịch sử. Và sau năm Kỷ Dậu lịch sử đó, đạo tượng binh này phải cùng với vợ chồng Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân bôn ba vài phen để giữ yên bờ cõi cho nhà Tây Sơn.

Sau đại thắng Thăng Long, tân hoàng đế Quang Trung phải lập lại bang giao với nhà Thanh, xin phong vương để chính vị hiệu và tránh bị tấn công từ Trung Hoa, trong khi đó ở miền Nam lại bất ổn. Chúa Nguyễn Phúc Ánh chiếm Gia Định, xây dựng lực lượng chuẩn bị đánh ra Bắc. Đế quốc Xiêm La đánh chiếm một số tiểu quốc ở Lào, cùng với Lê Duy Chỉ, em vua Lê Chiêu Thống khởi binh uy hiếp đến mặt Tây của nước ta ở Nghệ An. Có thể nói là lưỡng đầu thọ địch, nguy cơ trùng trùng.

Tháng 6 năm Canh Tuất (1790), Trần Quang Diệu lấy được Trấn Ninh, bắt tù trưởng Cheo Nan và Cheo Kiêu, tháng 8 bình định được Trịnh Cao và Quy Hợp. Tháng 10, Trần Quang Diệu tấn công Vạn Tượng, buộc thủ lãnh bỏ thành chạy trốn, thu được vô số chiêng, trống và vài chục thớt voi. Thừa thắng, Quang Diệu đánh thẳng đến biên giới Xiêm La, chém được Tả súy Phan Dung, Hữu súy Phan Siêu. Binh Xiêm thua chạy tán loạn. Trần Quang Diệu và Lê Trung dẹp yên biên giới, kéo binh về Tuyên Quang đánh Nùng Phúc Tân và Huỳnh Văn Đồng. Tân, Đồng chống không nổi bị chém tại trận tiền. Lê Duy Chỉ trốn không thoát cũng bị giết.

Mùa Xuân năm Tân Hợi (1791), vua Ai Lao là Chiêu Án không chịu triều cống, Trần Quang Diệu lại được cử đem binh sang vấn tội. Trận ra quân này có nữ tướng Bùi Thị Xuân tháp tùng. Quân Ai Lao chống cự không lại, sợ hãi xin hàng. Ở lại bình định một thời gian, hai vợ chồng kéo binh về nước, chuẩn bị sang đánh Miến Điện. Vua Miến Điện hay tin liền sai sứ sang xin thông hiếu, từ ấy bờ cõi phía Tây cũng như phía Bắc được yên ổn.

Một đời trung nghĩa, đến chết mới thôi

Bùi Thị Xuân tuy là thân nữ nhi nhưng tấm lòng trung nghĩa của bà đối với nhà Tây Sơn cũng sáng ngời sử xanh. Có thể nói cuộc đời của bà từ lúc sinh ra cho đến lúc mất là dành cho sự nghiệp Tây Sơn vậy.

Sau khi Quang Trung mất, nhà Tây Sơn bắt đầu suy vong. Thái sư Bùi Đắc Tuyên nhân vua còn nhỏ tuổi lộng quyền, hãm hại trung thần, vận nước ngày càng suy yếu đến nỗi đánh mất cả kinh đô Phú Xuân. 

Mùa xuân năm 1802, vua Cảnh Thịnh sai em là Nguyễn Quang Thùy vào trấn giữ Nghệ An, còn tự mình cầm quân đi đánh chiếm lại Phú Xuân. Trong chiến dịch này, Bùi Thị Xuân được lệnh đem 5,000 quân đi hộ giá. Lịch sử gọi trận đánh này là trận đánh lũy Trấn Ninh.

Bùi Thị Xuân được lệnh đem 5,000 quân đi hộ giá, đánh chiếm lại Phú Xuân. (Ảnh chụp màn hình Youtube)

Cùng sự canh tân quân đội học tập từ Tây Phương và các quân tướng tôi luyện qua nhiều năm chiến đấu, quân nhà Nguyễn giờ đây không yếu ớt như xưa nữa, mà đã trở thành một đạo quân rất hùng mạnh. Quân Tây Sơn tiến công cả ngày đêm nhưng không xuyên nổi phòng tuyến quân Nguyễn. Thấy tình thế ngày càng bất lợi, Bùi Thị Xuân cưỡi voi liều chết đánh thẳng từ sáng đến chiều vào lũy Trấn Ninh, nơi chúa Nguyễn Phúc Ánh đang cố thủ, máu và mồ hôi ướt đẫm áo giáp, làm cho quân tướng và cả chúa Nguyễn cũng nao núng. Nhưng trời không chiều người, những tưởng có thể chuyển bại thành thắng thì ngay lúc đó tướng Nguyễn Văn Trương đã phá tan thủy binh Tây Sơn ở cửa biển Nhật Lệ (Quảng Bình), cướp được hầu hết tàu thuyền, tướng trấn cửa biển là Nguyễn Văn Kiên cũng đã đầu hàng. Đội quân của bà dưới áp lực đó đã hốt hoảng bỏ cả vũ khí để tháo chạy, vua Cảnh Thịnh cũng đành hạ lệnh cho lui binh. Bùi Thị Xuân khuyên vua cố đánh tiếp nhưng không được. Bấy giờ chồng bà là Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng không thể giữ Quy Nhơn, đưa quân theo ngả thượng đạo ra Nghệ An để hội với vua Tây Sơn lo việc chống giữ. Vừa đến huyện Hương Sơn thì được tin thành Nghệ An đã bị hạ. Được mấy hôm, cả hai vợ chồng đều bị bắt.

Vốn đã nhiều phen khốn đốn với tài cầm quân của hai vợ chồng bà, sau khi chiêu hàng Trần Quang Diệu không xong, chúa Nguyễn đã ra lệnh chém đầu Trần Quang Diệu, riêng Bùi Thị Xuân và con gái bị nhà Nguyễn xử bằng hình phạt tàn khốc nhất… voi dày. 

Bọn lính phải vội vàng bắn hỏa pháo, đâm cây nhọn sau mông con vật để nó trở nên hung tợn, chạy bổ tới, giơ vòi quấn lấy bà tung lên trời… (Ảnh chụp từ màn hình Youtube)

Lời kết

Lời nói: “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm Vương đất Bắc” của Trần Bình Trọng và bài thơ Chính Khí Ca của Văn Thiên Tường dẫu qua mấy trăm năm vẫn làm trái tim bao người ái quốc phải rung lên vì khâm phục. 

Bỏ qua hết những búa rìu công tội của sử gia phe chiến thắng, ta chỉ thấy một tấm lòng trung nghĩa chói lọi đến ngày nay của một nữ kiệt vô song, đáng kính thay. Quả đúng là:

Cân quắc do tư báo quốc cừu
Khả liên di hận phó đông lưu
Dạ lan mỗi độc Tây Sơn sử
Phảng phất phương dung hiện án đầu.

(Vịnh phu nhân Bùi Thị Xuân- Nguyễn Bá Huân (1853- 1915))

Dịch thơ:

Phận gái lo tròn chuyện nước non
Thương thay mối hận chảy về đông
Đêm khuya lần đọc Tây Sơn sử
Phảng phất dung nhan trước án còn.

(Bản dịch của Việt Thao).

Minh Bảo