Các chuyên gia kinh tế nói với The Epoch Times rằng, Ngân hàng Credit Suisse vốn đang căng thẳng do đối mặt với khủng hoảng, với những rắc rối tài chính và tương lai bất ổn đã chiếm lĩnh trên các tiêu đề báo chí trong những ngày gần đây, có thể chứng kiến những khó khăn của mình sẽ nghiệt ngã hơn trong vài tuần tới khi ngày càng có nhiều giám đốc điều hành rời ngân hàng này, có thể dẫn đến một khả năng mà trong đó các nhà chức trách sẽ phải can thiệp và áp dụng các biện pháp cứu trợ tài chính mạnh tay giống như những biện pháp đã áp dụng trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.

Giá cổ phiếu của ngân hàng này đã giảm mạnh 11.5% hôm 03/10 trước khi trải qua một sự quay vòng khiêm tốn. Mức sụt giảm giá cổ phiếu nghiêm trọng này là một phần của sự suy giảm trong dài hạn, với giá cổ phiếu của Credit Suisse đã giảm 56.2% trong năm qua xuống còn 3.98 USD.

Niềm tin sụt giảm của nhà đầu tư đối với ngân hàng này xảy ra rất nhanh ngay sau 2 vụ đổ vỡ nổi tiếng liên quan đến bộ phận ngân hàng đầu tư của Credit Suisse. Đó là việc phân phối 10 tỷ USD vốn của khách hàng tại ngân hàng này cho một công ty cho vay Greensill của Vương quốc Anh, là công ty đã nộp đơn phá sản hồi tháng 03/2021; và sự sụp đổ gần như đồng thời của văn phòng gia đình Archegos Capital Management do nhà đầu tư Bill Hwang sáng lập, nơi mà Credit Suisse đã chuyển qua 30 tỷ USD để đầu tư vào công ty ViacomCBS. Khi cổ phiếu của công ty ViacomCBS giảm mạnh, bộ phận môi giới hàng đầu của Credit Suisse đã mất 5.5 tỷ USD và đã phải quay sang các nhà đầu tư trong một nỗ lực liều lĩnh để huy động vốn mới.

Vận may đi xuống của ngân hàng này đã khiến Giám đốc điều hành Ulrich Kömer của Credit Suisse đối mặt với áp lực nặng nề trong việc thực hiện một kế hoạch tổ chức lại, mà ông Kömer dự kiến ​​sẽ công bố vào cuối tháng này. Ngân hàng này được cho là đang tìm kiếm một tổ chức để mua lại nhánh ngân hàng đầu tư tách rời của mình, nhưng những nỗ lực đã gặp phải sự tuyệt vọng khi mục tiêu [để các nhà đầu tư] mua lại trong thời gian tới này trông ngày càng tệ hại. Hôm 05/10, các báo cáo đã thể hiện rằng một liên doanh được đề nghị giữa KB Securities và IGIS để mua lại các trụ sở tại Zurich của Credit Suisse đã không xảy ra.

Một số nhà kinh tế tin rằng tình hình của ngân hàng này có thể còn tồi tệ hơn so với bề ngoài. Theo ông Vermaelen, một giáo sư thỉnh giảng tại Trường Tài chính Booth thuộc Đại học Chicago, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tính đến các lực lượng thị trường ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng và ấn tượng giả tạo mà các hệ số tỷ lệ vốn được tính một cách đơn giản từ “giá trị sổ sách”, được định nghĩa là sự khác biệt giữa tài sản có và nợ phải trả trên bảng cân đối kế toán của công ty. Ông lưu ý rằng việc không làm được như vậy trong trường hợp của Lehman Brothers là một nguyên nhân góp phần dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.

Ông Vermaelen nói với The Epoch Times: “Rõ ràng, thị trường đã lường trước được rắc rối từ năm 2007, nhưng tín hiệu cảnh báo này đã bị phớt lờ cho đến ngày Lehman vỡ nợ. Tôi đã hy vọng rằng ít nhất một bài học đã học được ở đây: ngừng tập trung vào các thước đo kế toán để đo lường sức khỏe tài chính, mà hãy kết hợp thông tin của thị trường. Thị trường đôi khi có thể kém hiệu quả nhưng trung bình mà nói, thì đó là một chỉ báo tốt hơn giá trị sổ sách.”

Ông nói, “Ngày nay, Credit Suisse giao dịch ở mức 25% giá trị sổ sách, do đó, tỷ lệ vốn theo quy định của ngân hàng này đánh giá thấp rất nhiều về mức độ khó khăn về tài chính của Credit Suisse.”

Tuy nhiên, mọi thứ không hoàn toàn tồi tệ như năm 2008, ông Vermaelen thừa nhận, vì sự liên quan rộng rãi mà các ngân hàng khác phải đối mặt với Lehman Brothers trong cuộc khủng hoảng đó không có ở đây.

Nhảy việc

Trong khi đó, giới báo chí đưa tin rằng ngân hàng này có thể đang có kế hoạch sa thải 5,000 nhân viên của mình, biện pháp này có thể làm trầm trọng thêm tình trạng cạn kiệt nhân tài mà ngân hàng này phải đối mặt trong những năm gần đây khi các chiến lược đầu tư không khôn ngoan của họ đã làm tổn hại danh tiếng, làm lung lay niềm tin của thị trường vào ngân hàng, và đưa đến việc so sánh với sự sụp đổ của Lehman Brothers hồi năm 2008 vốn đã dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Ông Christopher Chua, phó giám đốc phụ trách mua bán và sáp nhập khu vực Á Châu-Thái Bình Dương, ông Jens Welter, đồng giám đốc ngân hàng toàn cầu và ông Daniel McCarthy, giám đốc sản phẩm tín dụng toàn cầu, chỉ là một vài trong số hàng chục giám đốc điều hành đã nhảy việc trong những tháng gần đây.

Theo quan điểm của ông Mark Egan, giáo sư quản trị kinh doanh tại Trường Kinh doanh Harvard, người đã thực hiện nghiên cứu chuyên sâu về các chênh lệch [lãi suất] và rủi ro vỡ nợ tín dụng của ngân hàng, thì những sự ra đi này có khả năng sẽ gây ra hiệu ứng quả cầu tuyết ngày càng tăng và rủi ro lan truyền.

Ông Egan nói với The Epoch Times: “Họ đã đưa ra cảnh báo cho nhân viên của mình vào tuần trước. Chúng ta biết rằng ngay cả khi một ngân hàng hầu như ổn, một ngày nào đó, nếu đột nhiên, tất cả những người gửi tiền và chủ nợ thức dậy và tin rằng ngân hàng đang gặp khó khăn, thì sự khó khăn ấy có thể sẽ tự diễn ra.”

Ông nói thêm, “Nếu Credit Suisse hoạt động không tốt và nhân viên của họ lo lắng về sự tồn tại của ngân hàng, quý vị có thể thấy một ngân hàng hoạt động, nơi những nhân viên giỏi với các lựa chọn tốt hơn sẽ rời bỏ Credit Suisse.”

Các nhà quan sát cho rằng, ngày càng nhiều nhân viên rời đi có thể khiến nguồn nhân lực giao dịch và đầu tư tại ngân hàng này co hẹp nghiêm trọng, và thậm chí còn làm xói mòn vị thế thị trường của ngân hàng hơn nữa. Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng ngày càng gia tăng, Credit Suisse đã thu hút sự chú ý lớn từ Ngân hàng Quốc gia Thụy Sĩ, và chính phủ Thụy Sĩ được cho là đang tích cực soạn thảo một đạo luật mới bơm vốn vào các ngân hàng đang gặp khó khăn được coi là trung tâm cho hoạt động của nền kinh tế toàn cầu.

Kinh nghiệm từ năm 2008

Ông Brian Domitrovic, giáo sư lịch sử tại Đại học bang Sam Houston và Học giả Richard S. Strong tại Trung tâm Laffer, tin rằng những tiến triển gần đây gợi nhớ đến một số bước mà các cơ quan quản lý thực hiện khi đối mặt với cuộc khủng hoảng năm 2008. Theo quan điểm của ông Domitrovic, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đưa ra một mô hình lịch sử minh họa về việc kiểm soát quá đà có thể làm các vấn đề kinh tế tồi tệ đi hơn là khắc phục, nhưng nhiều người đã bỏ qua hoặc không nắm bắt được khía cạnh này của cuộc khủng hoảng trước đó.

Ông Domitrovic nói, “Nếu chúng ta bắt đầu so sánh với năm 2008 và Lehman Brothers, chúng ta nên tự hỏi bản thân rằng chúng ta thực sự biết gì về năm 2008, và tôi nghĩ nói chung trí nhớ và hiểu biết của chúng ta về điều đó rất kém.”

Ông nói thêm, “Khi có sự sụt giảm trên thị trường, nhất định các công ty tài chính sẽ gặp khó khăn, đặc biệt nếu có những sự sụt giảm nghiêm trọng, với mức giảm 20 hoặc 25 điểm trên thị trường chứng khoán. Sẽ có những sản phẩm dựa trên giá trị cổ phiếu, và chúng sẽ trở nên có vấn đề và mất giá trị. Chúng có thể được đầu tư bằng vốn vay.”

Ông Domitrovic lập luận rằng, các ngân hàng phải chịu thiệt hại là việc bình thường, dù là vì các lực lượng vĩ mô hay do sai lầm của chính họ, và phương pháp tiếp cận nhẹ về quy định, chứ không phải tăng cường kiểm soát và can thiệp quá mức vào nền kinh tế, là những phương tiện hiệu quả nhất để giúp các ngân hàng hồi phục lại và cải thiện tình hình.

Ông nói, trong lịch sử, sự hoảng loạn đã giảm bớt khi các tổ chức thanh toán bù trừ và các ngân hàng đã có khả năng cho vay lẫn nhau. Đối với việc chính phủ áp đặt các quy định mới về ngân hàng và ngân hàng đầu tư, và cung cấp khoản tiền cứu trợ lớn, gây rối loạn thị trường và thậm chí cung cấp biện pháp khuyến khích cho một số ngân hàng hoạt động không tốt, vì họ nhận được tiền miễn phí và các đối thủ cạnh tranh của họ đột nhiên bị ràng buộc bởi các quy tắc và những hạn chế không nhất thiết phải áp dụng cho các chiến lược và mô hình kinh doanh của các đối thủ đó.

Ông Domitrovic đã đi xa hơn khi gợi ý có những động cơ thầm kín đằng sau hành động của các nhà quản lý trong thời kỳ thất bại trước đó.

Ông nói: “Cuộc khủng hoảng năm 2008 có thể rất khác so với những gì chúng ta đã tưởng tượng, nó có thể được tạo ra bởi sự thông đồng giữa chính phủ và các ngân hàng lớn.”

Các biện pháp khuyến khích tồi

Ông lập luận, cho dù vấn đề của Credit Suisse có thể nghiêm trọng đến mức nào, sẽ không khôn ngoan nếu theo đuổi các biện pháp tương tự trong trường hợp hiện tại.

Ông Domitrovic nói, “Vào năm 2008, có một tình tiết mà chính phủ đưa ra các thông báo rằng, ‘Chúng tôi sẽ vào cuộc và làm tất cả những điều này.’ Và thế là bỗng chốc, việc lâm vào khó khăn lại có giá trị. Đó là một tình huống rất kỳ lạ, và tôi hy vọng rằng trong trường hợp của Credit Suisse, các đối thủ kinh doanh của ngân hàng này có thể giúp đỡ” và tránh được sự can thiệp quá mức.

Ông Domitrovic chỉ trích các chính sách được áp dụng theo Chương trình Cứu trợ Tài sản Xấu (TARP) được thực hiện vào tháng 10/2008, chương trình này đã mang lại cho Bộ Ngân khố Hoa Kỳ tới 700 tỷ USD để mua cổ phần trong các ngân hàng và lấy đi các tài sản xấu ra khỏi sổ sách của họ. Ông Domitrovic đã lập luận rằng, việc mua lại tài sản xấu này tương đương cấp tiền miễn phí cho các tổ chức tài chính cho dù họ có được quyền hợp pháp để được như vậy hay không.

Ông nói, “Đưa khoản dự trữ của quý vị cho Fed và đột nhiên, quý vị nhận được tiền lãi từ khoản đó, cộng với việc họ mua tất cả những thứ được gọi là tài sản xấu của quý vị, bao gồm cả các khoản cho vay thế chấp. Quý vị có thể dỡ bỏ các tài sản đó để lấy tiền thật từ Fed.”

Trên thực tế, những nỗ lực của chính phủ để cứu trợ các ngân hàng bằng các chính sách can thiệp mạnh của mình đã dẫn đến một mối quan hệ đối tác đáng ngờ giữa chính phủ và các ngân hàng, làm suy yếu mô hình doanh nghiệp tự do mà về mặt lý thuyết, các ngân hàng vẫn đang hoạt động theo.

Ông Domitrovic nói: “Có TARP, có Cục Dự trữ Liên bang trả lãi cho các khoản dự trữ của quý vị và mua tài sản của quý vị, và thứ ba, môi trường pháp lý thoải mái. Bởi vì quý vị đã tuân theo, quý vị nhận được các điều kiện khả dĩ từ chính phủ và ngân hàng của quý vị có vị trí thống lĩnh thị trường hơn.”

Thực tiễn tốt nhất

Ông lập luận, thay vì lặp lại những sai lầm trong quá khứ, sẽ là khôn ngoan nếu để thị trường tự giải quyết vấn đề của mình thông qua các phương pháp đã được kiểm nghiệm qua thời gian.

Ông Domitrovic nói: “Hiển nhiên là, nếu có một vấn đề mang tính hệ thống nào đó, thì các bên cho vay nên cùng với nhau và cho Credit Suisse vay một khoản, và khi thị trường phục hồi, khoản vay này cuối cùng sẽ được hoàn trả. Đó là quy trình vận hành tiêu chuẩn. Nhưng hồi năm 2008 chúng ta đã không làm thế, và chúng ta đã phải chịu hậu quả. Nếu như các chủ ngân hàng không có khả năng làm điều đó, thì chúng ta không có một hệ thống ngân hàng tốt.”

Ông gợi ý, cách tiếp cận như vậy đã có hiệu quả trong quá khứ, và là quá đủ để giải quyết tình trạng suy thoái trên thị trường như hiện tại.

Ông nói: “Vào năm 1921, đã có một cuộc khủng hoảng, các chủ ngân hàng đã tự giải quyết được cuộc khủng hoảng này và các nhà chức trách đã hầu như không làm gì cả, và sau đó quý vị có Những năm 1920 Vang dội.”

Ông Domitrovic đã đối chiếu cách tiếp cận đó với các chính sách can thiệp vụng về của chính phủ liên bang vào cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930.

Ông nói: “Đây là một nguyên nhân của cuộc Đại Khủng hoảng, chính phủ liên bang phải đóng vai trò quản lý đối với nhiều ngân hàng của quốc gia từ năm 1929 đến năm 1933. Sự can thiệp đó đã gây ra cuộc Đại Khủng hoảng.”


Michael Washburn
BTV Epoch Times Tiếng Anh
Ông Michael Washburn là một phóng viên tự do tại New York, chuyên viết về các chủ đề liên quan đến Trung Quốc. Ông có nền tảng về báo chí pháp luật và tài chính, đồng thời cũng viết về nghệ thuật và văn hóa. Ngoài ra, ông còn là người dẫn chương trình podcast hàng tuần Reading the Globe. Các cuốn sách của ông bao gồm “The Uprooted and Other Stories” (“Những Câu Chuyện Mất Gốc và Những Câu Chuyện Khác”), “When We're Grownups” (“Khi Chúng Ta Trưởng Thành”), và “Stranger, Stranger” (“Người Lạ, Người Lạ”).

Nhật Thăng biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc từ The Epoch Times

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn