Tần Vũ Vương tiến vào tông miếu nhà Chu – Sở Hoài Vương bị lừa giam tại Tần Quốc.

Tướng quốc Cam Mậu lập tức ra lệnh tấn công thành Nghi Dương. Quả nhiên Nghi Dương là một thành khó công phá, giao tranh mấy tháng trời, Sư Lý Tật và các đại thần khác của nước Tần đều thưa lên Tần Vương, “ngài xem chúng ta đã tiêu tốn bao nhiêu tiền, rất nhiều binh lính vong trận, chúng ta hãy ngưng đánh”.

Tần Vũ Vương thật sự đã phái người tới kêu Cam Mậu hồi binh. Cam Mậu không hồi binh, chỉ gửi cho Tần Vương một bức thư, trong thư chỉ có hai chữ “Tức Nhượng”, đây là nơi hai người lập thệ ước. Tần Vũ Vương nhìn thấy hai chữ Tức Nhượng, nhớ ra thệ ước trước đó của mình. Tần Vũ Vương lại phái đại quân đi chi viện cho Cam Mậu, cuối cùng cũng đánh hạ được thành Nghi Dương.

Sau khi đánh hạ được thành Nghi Dương, đại binh nước Tần liền tiến đến ngoại ô của Đông Chu, là ngoại ô của Lạc Dương. Lúc này, nhà Chu đã rất suy yếu, Chu Thiên Tử đích thân ra biên ngoại đón Tần Vũ Vương. Tần Vũ Vương tiến vào bên trong miếu đường của nhà Chu, nhìn thấy chín cái đỉnh.

Chín đỉnh này là năm đó khi Đại Vũ trị thủy đem thiên hạ chia thành chín châu, mỗi một châu dùng đồng đúc thành một cái đỉnh, trên mỗi đỉnh đồng đều khắc những thứ của châu đó như núi sông, phong tục, con người, sản vật v.v., cho nên cửu đỉnh này là trọng khí trấn quốc, là tượng trưng cho vương quyền của Chu Thiên Tử.

Tần Vũ Vương ngắm nhìn chín đỉnh đồng, ông chỉ một cái có khắc tên Ung Châu và nói, “chiếc đỉnh này khắc họa nước Tần ta, ta muốn đem chiếc này về”. Ông ta liền di chuyển chiếc đỉnh.

Chiếc đỉnh đó rất nặng, Tần Vũ Vương vốn là lực sĩ, ông ỷ vào sức lực của mình để di chuyển chiếc đỉnh. Kết quả khi ông muốn di chuyển chiếc đỉnh thì nắm không chắc, chiếc đỉnh đó rơi xuống đập vào chân của ông, làm cho cả bàn chân như đống thịt nát. Khi đó Tần Vũ Vương hét to một tiếng, lập tức chết trong đau đớn. Đó là  năm Tần Vũ Vương thứ 4.

Lời bạch: Đánh thông được con đường Tam Xuyên, Tần Vương đi tham quan đô thành của Chu Thiên Tử, đây chính là chủ trương nhất quán của Trương Nghi. Ngay từ năm 317 TCN, khi Trương Nghi và Tư Mã Thác tranh luận trước mặt Tần Huệ Văn Vương liệu có nên đánh nước Thục hay không, Trương Nghi đã đề xuất kế hoạch tấn công nước Hàn. Mười năm sau đó, kế hoạch cuối cùng đã được Tần Vũ Vương thực hiện, nhưng Tần Vũ Vương vì muốn chiếm đoạt cửu đỉnh của Chu Thiên Tử nên lỗ mãng hành sự mà thân vong. Sau khi Tần Vũ Vương chết, em trai cùng cha khác mẹ là Doanh Tắc lên kế vị. Doanh Tắc có thời gian tại vị lên đến 56 năm, ông ta là Tần Chiêu Tương Vương nổi tiếng. Những gì ông làm trong thời gian chấp chính đã đặt định cơ sở cho triều Tần thống nhất thiên hạ.

Năm 299 TCN, Tần Chiêu Tương Vương năm thứ 8, sau khi Tần Chiêu Tương Vương lên kế vị được tám năm, giữa nước Tần và nước Sở xảy ra mấy lần chiến tranh, lần nào nước Sở cũng bị thua.

Năm 303 TCN, Sở Hoài Vương đưa con trai của mình là Mị Hoành đến nước Tần làm con tin, kết quả thái tử Mị Hoành đã gây gổ với một đại phu nước Tần và đánh chết vị đại phu này. Sau khi đánh chết người Mị Hoành chạy trốn về nước Sở.

Sở Hoài Vương thấy Thái tử Mị Hoành đánh chết đại thần nước Tần rồi, lo sợ nước Tần trả thù, ông bèn đem Thái tử Mị Hoành đến nước Tề làm con tin, một mặt tránh nước Tần tấn công nước Sở, đồng thời ông cũng cùng nước Tề lập một hiệp ước quan hệ đồng minh.

Năm 299 TCN, Tần Chiêu Tương Vương gửi cho Sở Hoài Vương một bức thư, trong thư nói: “Hai nước chúng ta vốn có quan hệ thông gia, con trai nhỏ của ngươi là Công tử Lan lấy con gái nước Tần. Thái tử của ngươi từng làm con tin ở nước Tần ta, sau khi giết người lại chạy mất, ta cũng không có truy cứu. Hiện nay ta hy vọng có thể cùng Sở Vương lập một quan hệ ngoại giao, một quan hệ chiến lược, như vậy chúng ta có thể hiệu lệnh chư hầu”.

Trên thực tế, nước Sở và nước Tần đều là hai nước rất lớn, Tần Chiêu Tương Vương nói “chúng ta có thể gặp mặt nhau ở Vũ Quan”. Vũ Quan thuộc địa phận huyện Đan Phượng tỉnh Thiểm Tây ngày nay. Sở Hoài Vương nhận được thư rất do dự nên đi hay không, nếu như không đi thì nước Tần sẽ nổi giận, còn như đi lại sợ trong đó có âm mưu gì, liền ở đó bàn bạc.

Có hai người kiên quyết phản đối ông ta đi, một người là Tể tướng Chiêu Thư, người còn lại là Khuất Nguyên.

Cũng có hai người khuyến nghị nên đi, một người là Công tử Lan lấy công chúa nước Tần, một người là nịnh thần Cận Thượng. Hai người họ ra sức khuyên Sở Hoài Vương đi, nói nước ta so với nước Tần thì thực lực quân sự kém xa, chúng ta chỉ mong sao được kết giao với một đồng minh mạnh như vậy, họ không mời chúng ta còn muốn đi, họ bây giờ mời chúng ta, chúng ta làm sao có thể không đi?

Sở Hoài Vương nghe theo kiến nghị của Cận Thượng và công tử Lan, khinh thân đi nước Tần.

Ông vừa tiến tới quan ải của nước Tần, nước Tần liền đóng cửa ải, cưỡng chế bắt Sở Hoài Vương đến đô thành Hàm Dương của nước Tần. Tần Vương khi đó gặp ông, không dùng lễ tiết ngoại giao của Quốc Quân để tiếp đãi, mà lấy lễ tiết đối với chư hầu tiếp đón ông.    

Sở Hoài Vương giận dữ nói, “ngài lừa ta đến rốt cuộc là có mục đích gì?”. Tần Vương nói, “ta rất thích mảnh đất Kiềm Trung này, ngài đem mảnh đất Kiềm Trung này cắt cho nước Tần ta, ta lập tức thả ngài về”.

Sở Hoài Vương nói, “nếu như ngài muốn đất, nói tử tế với ta là được rồi, sao phải bắt ta đến đây, bức hiếp ta như vậy. Như thế này, chỉ cần ngài thả ta về, ta sẽ cùng ngài lập một thệ ước, đảm bảo sẽ cắt đất cho ngài, nhưng ngài phải thả ta về trước”.

Tần Vương cười ha ha, đáp, “Minh ước này làm sao đáng tin, chỉ cần ngài không nhượng đất thì ngài đừng nghĩ đến về”, nói xong liền giam lỏng Sở Vương.

Chúng ta xem con người Sở Hoài Vương này, ông kỳ thực vừa đáng thương lại vừa đáng giận. Ông bị nước Tần giam lỏng trong thời gian ba năm, đã từng chạy trốn một lần, nhưng lại bị Tần Vương bắt lại, bị giam lỏng ở quán dịch ba năm, sau đó ông bị bệnh chết, đương nhiên cũng có một khả năng là bị tức mà chết. Ông quả thực là chết rất thảm.

Nói con người này đáng giận, bởi vì đầu óc ông ta như hồ dán, ông ta nhiều lần bị Tần Vương lừa, mắc lừa hết lần này đến lần khác, sau đó lại giao chiến, lại thua, chết rất nhiều người, rồi lại bị lừa.

Tây phương có một câu ngạn ngữ: “Cheat me once, shame on you; cheat me twice shame on me”. Ý nghĩa của nó là ngươi lừa ta một lần là sự sỉ nhục của ngươi, lừa ta hai lần là sự sỉ nhục của ta. Tại sao lừa một lần là sự sỉ nhục của ngươi? Đó là do ta tin tưởng thiên hạ đều là quân tử, không lường được rằng ngươi là tiểu nhân. Nhưng nếu ngươi lừa ta hai lần thì đó chính là sự sỉ nhục của ta, tại sao ư? Ta đã bị nguơi lừa một lần mà không lấy đó làm gương, để cho ngươi lừa hai lần, chứng tỏ ta là kẻ ngu xuẩn, đó là sự sỉ nhục của ta. Sở Hoài Vương này đã bị lừa đi lừa lại như vậy, rất nhiều lần mắc bẫy.

Sở Hoài Vương bị giam tại nước Tần, nước Sở đứng trước một vấn đề rất nghiêm trọng, không có Quốc Quân. Dưới tình huống này, các đại thần nước Sở đến nước Tề yêu cầu, mời Thái tử Mị Hoành đang làm con tin quay về làm Quốc Quân.

Lúc ấy, Tề Vương cùng các đại thần trong triều bàn bạc có nên đưa Thái tử nước Sở trở về hay giữ lại? Có một số đại thần khuyên rằng không đưa về, nếu như đồng ý trả về, hãy dùng Thái tử để trao đổi, yêu cầu nước Sở cắt nhượng đất đai ở phía bắc sông Hoài cho nước Tề. Một kiến nghị khác là nước Sở đã muốn đón, chúng ta cứ đem Thái tử trả cho họ, Sở Hoài Vương cũng không phải chỉ có một người con này. Nếu họ lập một người khác làm Quốc Quân, chúng ta giữ người này cũng vô dụng, ngược lại còn kết thù kết oán với nước Sở, tốt nhất chúng ta đem ông ta đưa trả về.

Tề Vương nghe theo ý kiến thứ hai, đưa Thái tử Mị Hoành từ nước Tề về nước Sở. Mị Hoành lên kế vị, chính là Sở Khoảnh Tương Vương. Ông ta chẳng những trọng dụng công tử Lan và nịnh thần Cận Thượng, mà bảy năm sau ông ta lại cùng nước Tần kết quan hệ hôn nhân. Lúc đó có một vị đại thần rất tức giận, đó chính là Tam lư đại phu Khuất Nguyên.

Khuất Nguyên. (Ảnh: wikipedia)

Tam lư đại phu là chức vị gì? Đó là chức quan nắm giữ việc tế tự tông miếu và dạy học cho các con em trong tông tộc. Ông một lòng hy vọng nước Sở có thể trở thành một nước hùng mạnh để báo thù rửa hận, thế nhưng ông nhìn thấy Sở Khoảnh Tương Vương, Công tử Lan cùng các đại thần khác, tất cả đều an phận với phú quý, không biết như thế nào mới có thể khiến cho nước Sở thực hiện được nước giàu binh mạnh. Họ mỗi ngày chỉ biết hưởng lạc, còn nỗi nhục của đất nước đã rất nhanh chóng quên đi.

Khuất Nguyên thường xuyên tấu trình việc này, đương nhiên Sở Vương không thích nghe, cuối cùng Sở Vương lưu đày Khuất Nguyên về cố hương của ông là Tỷ Quy.

Tại quê hương, Khuất Nguyên xõa tóc, dạo bước bên sông làm thơ. Bài thơ có tên Ly Tao. Tư Mã Thiên rất cảm thông đối với Khuất Nguyên. Trong “Sử ký”, ông viết riêng về Khuất Nguyên để truyền lại cho đời sau. Ông viết, “Khuất Nguyên ngay thẳng chính trực, hết lòng trung thành, dùng trí tuệ của mình để phụng sự vua, nhưng bị những kẻ tiểu nhân gièm pha ly gián, có thể nói là đã lâm vào hoàn cảnh khốn cùng. Là người thành tín mà lại bị hoài nghi, một lòng trung thành mà bị phỉ báng, có thể không oán ư? Khuất Nguyên sáng tác “Ly Tao”, che đậy sự tự oán trong đời”.

Khuất Nguyên xõa tóc dài, ngâm thơ dạo bước bên bờ sông, một lần ông gặp một người đánh cá. Người ngư dân liền hỏi Khuất Nguyên, “lẽ nào ngài chẳng phải Tam lư đại phu sao, vì sao ngài bây giờ rơi xuống tình trạng thảm hại thế này?”

Khuất Nguyên đáp, “trên đời đều đục mà mình ta trong, thế nhân đều say mà riêng ta  tỉnh”. Ý là mọi người đều vẩn đục, chỉ có ta là thanh khiết, mọi người đều như say, chỉ có ta là thanh tỉnh. Đây là vì sao ta thống khổ như thế.

Người ngư dân kia liền khuyên ông, “đã là mọi người đều say, ông cũng cùng mọi người uống say như thế, không phải cũng được sao. Mọi người đều vẩn đục, ông cùng bọn họ thông đồng, chẳng phải cũng ổn ư”. Khuất Nguyên trả lời, “một người sau khi tắm rửa xong khẳng định phải rũ sạch y phục, vừa gội đầu xong khẳng định phải phủi sạch bụi trên mũ. Một người thân thể đã sạch sẽ, người đó sẽ không muốn khoác bộ y phục bẩn thỉu, đội lên cái mũ dơ dáy, vì thế Khuất Nguyên ta muốn gìn giữ cái đức hạnh này của mình”.

Khuất Nguyên là thi nhân có danh tiếng bậc nhất trong lịch sử Trung Quốc. Chúng ta biết trong thời kỳ Xuân Thu, Khổng Tử đã từng chỉnh lý bộ tổng tập thơ ca thứ nhất của Trung Quốc là “Kinh Thi”. “Kinh Thi” có tất cả 305 bài, nhưng nếu hỏi 305 bài thơ này tác giả của mỗi một bài thơ là ai, thì không có câu trả lời. Khuất Nguyên là thi nhân đầu tiên có tên trong lịch sử Trung Quốc, ông chẳng những viết thơ mà còn là người mở đầu tuyển tập thi ca Sở Từ, mọi người đều biết là ông viết.

Khuất Nguyên không phải vừa về đến cố hương liền nhảy xuống sông tự vẫn, ông ở đó thời gian ròng rã 14 năm, ở đó làm ruộng ròng rã 14 năm. Năm 278 TCN, năm Sở Khoảnh Tương Vương thứ 21, Tướng quốc Vũ An Quân Bạch Khởi của nước Tần công hãm đô thành nước Sở. Lúc này Khuất Nguyên biết rằng nước Sở đã hết hy vọng, ông ôm một tảng đá lớn gieo mình xuống dòng sông Mịch La tự tử mà chết.

Lúc ấy có rất nhiều người đều thương tiếc ông, họ chèo thuyền nhỏ vớt ông, sợ thi thể ông bị cá ăn, họ vung gạo ở trên sông làm thức ăn cho cá. Truyền thống đua thuyền rồng và ăn bánh chưng chính là bắt nguồn từ câu chuyện Khuất Nguyên nhảy sông này.

Năm 299 TCN, năm đó Sở Hoài Vương bị lừa đến nước Tần, cùng năm đó tướng quốc Mạnh Thường Quân của nước Tề cũng bị lừa vào nước Tần. Sở Hoài Vương chết tại nước Tần, nhưng Mạnh Thường Quân lại thoát được, vậy Mạnh Thường Quân đã thoát khỏi nước Tần như thế nào, ông dựa vào đâu để thoát khỏi nước Tần?

Mời quý vị xem tập sau – “Thỏ khôn ba hang”. 

(Còn tiếp)

Xem thêm loạt bài “Tiếu đàm phong vân

Do Bi Hui thực hiện
Sương Sương biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc từ Epoch Times Hoa ngữ

Xem thêm: