Các nghiên cứu trong hơn hai thập kỷ qua đã chỉ ra máy tính xách tay và các lớp học tại trường đại học trong nhiều trường hợp là một sự kết hợp tiềm ẩn nhiều nguy cơ.

Khi mùa hè oi ả nhường chỗ cho mùa thu, một số sinh viên Mỹ sẽ nghỉ học ở trường đại học trong một vài tuần.

Cùng với túi đựng đồ giặt, bìa đựng hồ sơ, đồ trang trí phòng, ga trải giường, dầu gội đầu, và có lẽ vật dụng êm ái ưa thích, chiếc máy tính xách tay giờ đây cũng đã trở thành một đồ dùng cơ bản như cuốn sổ tay kế hoạch của những năm trước đây.

Máy tính xách tay được sử dụng cho mọi việc, từ đánh máy đến truy cập các bài tập trong khóa học, làm nghiên cứu, đăng bài lên các diễn đàn và tất cả các việc khác ít liên quan tới trường học mà chúng ta thực hiện với tư cách là một thành viên của xã hội. Đó là gửi thư điện tử cho bạn bè, truy cập mạng xã hội, mua sắm và tất cả những việc tương tự như vậy.

Vấn đề chính là ranh giới giữa hai thế giới, học thuật và xã hội, dường như mong manh tới mức đáng buồn khi đề cập tới chiếc màn hình rộng từ 30 đến 38cm kia.

Các phát hiện trong hơn hai thập kỷ qua của các nhà nghiên cứu giáo dục cho thấy rằng hầu hết sinh viên đều có khoảng thời gian đặc biệt khó khăn để duy trì việc học và vẫn giữ được niềm vui. Trong bất kể trường hợp nào thì hai phạm trù này hòa trộn vào nhau và khó nhận biết khi máy tính xách tay xuất hiện. Và lớp học cũng không phải là một ngoại lệ.

Hơn bất kỳ một dụng cụ sáng bóng nào trong kho vũ khí của sinh viên, máy tính xách tay hóa ra là “con dao hai lưỡi,” theo cách nói ngày nay, thực ra đó là vật dụng lợi bất cập hại. Nhưng không giống với vết thương hở do một thanh kiếm gây ra, tác hại của thiết bị mạ crom sáng bóng cất trong ba lô này rõ ràng khó nhận ra hơn. Điểm số cuối kỳ kém ít được thể hiện ra trước mắt như vết thương thể chất và cơn đau, nếu có biểu hiện cũng ít liên quan tới nguyên nhân căn bản.

Theo một nghĩa nào đó, máy tính xách tay có thể rất thích hợp khi ví với con ngựa thành Troy: Một kẻ xâm lược tàng hình, nhìn bề ngoài, dường như là một món quà đáng thèm muốn. Rốt cuộc, ai mà không vui mừng khi được đến khuôn viên trường với chiếc máy tính Mac Retina đời mới nhất, được trang bị thẻ video tốt nhất và bộ nhớ thuộc loại “khủng”?

Tuy nhiên, khi đề cập đến các nghiên cứu, chúng tôi thấy cần phải thận trọng hơn. Vẻ ngoài mới toanh và sáng bóng không nhất định là một người bạn tốt như bạn tưởng.

Đầu tiên, chúng ta cần lưu ý một sự thay đổi cơ bản trong những nhà nghiên cứu giáo dục, mặc dù điều này chưa thực sự phổ biến đến công chúng. Trong những năm qua, các nhà nghiên cứu dần dần nhận thấy mối lo ngại về máy tính xách tay (hay máy tính nói chung) trong lớp học, điều này dường như rất chính đáng.

Nhìn lại nghiên cứu ban đầu từ những năm 1990 vẽ nên bức tranh lý tưởng về những khả năng vô hạn và danh sách dường như vô tận của những kết quả tích cực.

Các nghiên cứu đáng chú ý từ năm 1994 đến năm 1998 đã nói về tất cả các loại đặc quyền do máy tính tạo ra, nào là tăng động lực học tập của sinh viên, kỹ năng làm việc được phát triển tốt hơn, cải thiện sự chuyên cần đến lớp, kỹ năng giải quyết vấn đề tốt hơn, cải thiện kỹ năng viết, thành tích học tập bền vững hơn.

Bạn có thể nghĩ ra khá nhiều điểm cộng về mặt sư phạm được dành cho công nghệ mới nổi này.

Đó là một câu chuyện tình lãng mạn mà theo nhận thức sâu sắc, có lẽ phần lớn được tạo ra từ lăng kính màu hồng (rốt cuộc ai không hào hứng với lời hứa về cuộc cách mạng máy tính?) hoặc do sự mới lạ của máy tính hơn là những kết quả được làm rõ trên thực tế.

Vào đầu những năm 2000, khi máy tính xách tay trở nên phổ biến hơn, các nghiên cứu mang tính tích cực về máy tính không xuất hiện nhiều.

Một bài báo năm 2001 của Geri Gay, giáo sư truyền thông tại Đại học Cornell và Michael Grace-Martin, một cộng sự nghiên cứu, đã sử dụng một máy chủ Internet để ghi lại và phân tích quá trình lướt web của sinh viên trong giờ học. Họ chọn hai khóa sinh viên đại học và theo dõi hoạt động của 82 sinh viên. Xin lưu ý với bạn, đây là những sinh viên ở tuổi học đại học — không phải học sinh phổ thông cơ sở hoặc học sinh trung học chưa trưởng thành — đang theo học tại một trong những trường đại học nổi tiếng ở miền Đông nước Mỹ.

Những gì nhóm nghiên cứu phát hiện ra hoàn toàn trái ngược với câu chuyện được tuyên truyền phổ biến: Sinh viên sử dụng Internet trong lớp càng nhiều thời gian, điểm số cuối khóa của các em càng kém.

Mặc dù điều này có vẻ như là một loại khẳng định “không có” của lẽ thường, nhưng chúng ta phải nhớ rằng hàng chục triệu đô la khi đó — cũng như bây giờ — được đầu tư vào các công nghệ mới trong lớp học trên khắp đất nước, từ cấp tiểu học trở lên. Những hoài nghi về điều này được ghi nhận. Đó là xu thế diễn ra nhanh chóng và không thể kiểm soát như một chiếc tàu không phanh.

Một mẩu tin cá nhân rất đáng được chia sẻ từ một giảng đường khác của tiểu bang New York. Chỉ vài năm sau nghiên cứu của Đại học Cornell, tôi nhớ một người bạn đã chia sẻ nỗi kinh hoàng của cô ấy khi tới dự thính một lớp học tại trường Luật của Đại học Columbia. Cô quan sát một giảng đường lớn và thấy các luật sư ưu tú của đất nước Hoa Kỳ đang làm gì với chính mình. Trong khi giáo sư xuất sắc đang giảng bài trên bục giảng, giải thích về những điều phức tạp của luật hợp đồng, có thể quan sát thấy hàng chục sinh viên trong giảng đường đang thao tác trên máy tính xách tay của họ, làm việc gì đó chứ không chăm chú ghi chép bài.

Một số sinh viên đang nhắn tin cho nhau. Những em khác thì kiểm tra email. Một số em đang mua sắm. Một em thậm chí đang xem một video ngẫu nhiên trên mạng và còn những em khác đang đọc tin tức.

Tuy nhiên, đây là những sinh viên ưu tú tại một trong năm trường Đại học Luật hàng đầu của Hoa Kỳ – những em đã giành được một suất học tại đây bằng cách ghi điểm gần như tuyệt đối trong kỳ thi LSAT siêu cạnh tranh và đạt điểm trung bình gần như tuyệt đối trong suốt nhiều năm học đại học. Và bây giờ các em là một trong những sinh viên xuất sắc nhất chuẩn bị bước vào một trong những ngành nghề cạnh tranh nhất.

Nếu bạn mong đợi bất kỳ ai trong lớp học không lãng phí cơ hội giáo dục, thì đó chính là họ.

Đó là một khoảnh khắc khiến mọi người mở mang tầm mắt cũng như thức tỉnh khi nghe về điều này. Kể từ đó, các tài liệu chỉ nêu được bức tranh phác họa đáng kinh ngạc mà bạn tôi chỉ ra ngày hôm đó. Tuy nhiên, một vài đồng nghiệp của tôi trong nghề giảng dạy đã quen thuộc với điều này. Một số nghiên cứu quan trọng có tính dự báo đưa ra một bức tranh đáng báo động.

Một nghiên cứu năm 2010 được công bố trên Tạp chí Giáo dục Hệ thống Thông tin đã kiểm tra mức độ đa nhiệm của sinh viên trong một khóa học ở đại học dựa vào bài giảng. Theo các tác giả của nghiên cứu, đây phải là một khóa học rất hấp dẫn vì nó bao gồm “nội dung giải quyết những vấn đề quan trọng.”

Phát hiện của họ như thế nào? “Các sinh viên tham gia kiểm tra tác vụ đa nhiệm với máy tính xách tay của các em và kết quả là các sinh viên đã mở các ứng dụng phần mềm không liên quan đến khóa học chiếm khoảng 42% thời gian.”

Đó là gần một nửa thời gian dành cho lớp học, quả thực là “rất đáng kể”!

Đáng chú ý, các nhà nghiên cứu đã tiến hành giám sát lịch sử sử dụng mạng internet cũng như yêu cầu các sinh viên tự báo cáo về các hoạt động của mình rồi sau đó, so sánh hai hoạt động. Chắc chắn, các sinh viên đã báo cáo rất ít các hoạt động đa nhiệm trên máy tính của các em.

Chúng ta cần lưu ý hàm ý ở đây: Sinh viên thường đánh giá thấp mức độ lạm dụng máy tính xách tay của mình. Các em không nắm bắt được mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Ở đây có sự khác biệt giữa thực tế và vấn đề của các em – có điều gì đó tương tự một cách kỳ lạ với những gì xảy ra khi lạm dụng chất kích thích.

Trong một số trường hợp, các nghiên cứu khác chỉ dựa vào sự tự báo cáo của sinh viên nên được xem xét dưới góc độ hoài nghi. Các báo cáo nổi bật về khả năng đa nhiệm trên máy tính xách tay về sinh viên đại học bị hoài nghi ở nhiều cấp độ khác nhau.

Một nghiên cứu quan trọng khác được thiết kế cẩn thận, thực hiện vào năm 2012 và được xuất bản trên tạp chí “Máy tính & Giáo dục” do sáu người hợp tác, đưa các sinh viên có máy tính và được truy cập internet trong một lớp thi đấu với một nhóm sinh viên chỉ có “giấy và bút chì,” vốn là không có máy tính xách tay.

Họ phát hiện ra rằng “những sinh viên tham gia nghiên cứu không sử dụng bất kỳ loại công nghệ nào trong các bài giảng thực hiện tốt hơn những sinh viên sử dụng một số loại công nghệ” – điều mà họ cho rằng các nhà tâm lý học gọi đó là “lý thuyết về sự chú ý”. Nói cách khác: Sự đa nhiệm làm suy yếu khả năng tập trung của bạn.

Nghiên cứu trên đã nói lên quá nhiều điều rõ ràng về các bộ vi xử lý được cải tiến và băng thông rộng.

Một nghiên cứu khác năm 2012 của ba nhà nghiên cứu là Faria Sana, Tina Weston, và Nicholas J. Cepeda cho biết thêm một khía cạnh khác của vấn đề. Máy tính xách tay không chỉ có nguy cơ ảnh hưởng đến kết quả học tập của chính người sử dụng mà còn ảnh hưởng đến kết quả học tập của bạn bè xung quanh.

Nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng “những sinh viên tham gia nghiên cứu nhìn trực tiếp vào một người bạn đang thực hiện đa nhiệm đạt điểm thấp hơn trong bài kiểm tra so với những sinh viên không thực hiện” và kết luận rằng “đa nhiệm trên máy tính xách tay gây ra sự phân tâm đáng kể cho cả người dùng và các bạn của sinh viên đó.”

Một chiếc máy tính xách tay bị lạm dụng không chỉ khiến bạn trở thành một sinh viên học kém hơn, nó cũng khiến bạn trở thành một công dân tệ hơn. Do đó, máy tính không chỉ tự hủy hoại bản thân bạn, nó còn rất ích kỷ.

Nhưng những sinh viên xuất sắc thuộc các trường đại học đặc biệt danh tiếng thì sao? Chắc chắn các em có thể thoát khỏi sức tấn công có phần vô bổ của máy tính hơn những người còn lại trong chúng ta, dựa trên sức mạnh học tập của các em?

Tuy nhiên, một lần nữa, nghiên cứu đưa ra kết quả là “không.”

Một nghiên cứu có tiêu đề đáng chú ý năm 2014 của nhà nghiên cứu có tên Susan Ravizza và các đồng nghiệp tại Đại học Michigan, đã nêu ra mối liên hệ: “Việc sử dụng Internet không liên quan đến nội dung học tập trên lớp có ảnh hưởng tiêu cực đến việc học trong lớp dù năng lực trí tuệ của sinh viên đó ở mức độ nào.” (nghiên cứu nhấn mạnh thêm)

Vì vậy, nếu có mặt trái của máy tính xách tay, có lẽ tất cả chúng ta đều dễ bị ảnh hưởng bởi sức mạnh hủy diệt của nó như nhau. Bạn không thể vượt qua nó; bạn chỉ có thể vượt qua chính bản thân mình.

Nhà nghiên cứu Ravizza và cộng sự cũng thực hiện một nghiên cứu tương tự như vậy vào năm 2016. Nghiên cứu cho thấy, trí thông minh không phải là yếu tố giảm thiểu duy nhất khi thực hiện đa nhiệm trên máy tính xách tay trong lớp, mà cả động lực hay sự quan tâm đến tài liệu khóa học cũng giảm theo. Có vẻ như sự cám dỗ của hành động lướt, nhắn tin và bước ra khỏi giới hạn sẽ đánh bại những ý định tốt nhất của chúng ta.

Và điều này đang xảy ra ở một mức độ khá rõ ràng.

Nhóm nghiên cứu ở tiểu bang Michigan phát hiện rằng, sinh viên trung bình lãng phí gần 40 phút trong khoảng thời gian 100 phút trên lớp để làm những việc trên mạng, không liên quan đến học tập— bao gồm, như ở tiểu bang Columbia, kiểm tra email, mua sắm, đọc tin tức, trò chuyện và chơi trò chơi. (Và có thể nói rằng sinh viên của tiểu bang Michigan cũng không chắc là có kết quả thấp hơn các bạn ở tiểu bang Columbia!)

Điều đó có nghĩa là chỉ với động lực, hứng thú hoặc thậm chí siêu trí tuệ vẫn là chưa đủ. Khả năng bị máy tính xách tay làm sai lệch lấn át những lời hứa hẹn về tác dụng của thiết bị này. Và tất cả chúng ta đều mắc phải vấn đề này như nhau.

Thật không may, điều này lại tái diễn – một lần nữa. 

Thật khiêm nhường khi nhận ra điều này. Nhưng đó là điều quan trọng. 

Vậy còn việc thực hiện các biện pháp đối phó chủ động thì sao? Liệu người ta có thể đánh lui ma quỷ bằng các chiến lược tàng hình, chẳng hạn như đặt mình ở hàng đầu tiên, tiến lên phía trước và càng ở trung tâm càng tốt?

Một nghiên cứu đầy thông thái vào năm 2020 của hai nhà nghiên cứu Walter F. Bischof và Alan Kingstone đã phát hiện ra rằng “việc sử dụng máy tính tác hại như nhau đối với kết quả học tập trên lớp bất kể học sinh ngồi ở phía trước hay phía sau lớp học.”

(Mặc dù vậy, những sinh viên ngồi hàng ghế đầu lưu ý: Ngồi gần hàng ghế trước có tương quan với thành tích học tập cao hơn, bình thường — xê dịch đến 0.75 phần trăm điểm cho mỗi hàng! Tuy nhiên, lợi ích đó nhanh chóng bị máy tính xách tay xóa bỏ — mà tính trung bình, chiếm của một sinh viên 3.88 tổng điểm phần trăm.)

Trong khi một số nghiên cứu đã tìm thấy một số mặt tích cực liên quan đến việc sử dụng máy tính xách tay, những nghiên cứu này có xu hướng ít dần và xa rời thực tế. Nhiều nghiên cứu dường như cũng đồng ý rằng thật khó, nếu không muốn nói là không thể, để xác định một số ít sinh viên chọn lọc là những người được hưởng lợi từ việc sử dụng máy tính xách tay.

Ngay cả những nghiên cứu đã tìm thấy những lợi ích có tính chủ đích – chẳng hạn như sử dụng internet cho các hoạt động liên quan đến lớp học – trong một số đánh giá được tiến hành tốt như nghiên cứu của nhóm nghiên cứu của Ravizza, cũng bị cho là không có cơ sở. Theo nhóm nghiên cứu của bà, việc sử dụng máy tính xách tay cho các hoạt động trong lớp “không liên quan đến lợi ích đối với hiệu suất trong lớp.”

Càng ngày, có vẻ như bằng chứng về tác hại của máy tính xách tay càng chồng chất, ít nhất là trong lớp học đại học.

Và như mô tả trước đây, ngay cả khi một sinh viên thực hiện quyền tự chủ tuyệt đối (giả sử tắt Wi-Fi của một em nào đó khi bắt đầu lớp học) và chỉ sử dụng máy tính xách tay để ghi chép, thì em đó vẫn có thể bị sao nhãng. Lợi ích của giấy và bút không chỉ giúp bạn tránh được sự phân tâm bởi internet mà còn giúp bạn học tập sâu hơn và hình thành trí nhớ dài hạn.

Nhìn chung, lợi ích ít ỏi (có vẻ ngày càng mỏng manh, nếu có) dường như kém xa tác hại.

Một cuốn sổ tay xoắn ốc truyền thống có thể không hào nhoáng như chiếc máy tính xách tay đời mới nhất, nhưng nó có khả năng mang lại thành công nhiều hơn cho các bạn trong lớp học.

Và thật thú vị, việc di chuyển xung quanh với cuốn sổ tay sẽ đỡ mất sức hơn rất nhiều.

Matthew John là một nhà giáo và nhà văn kỳ cựu. Ông đam mê lịch sử, văn hóa và văn học kinh điển. Ông hiện đang sống ở thành phố New York.


Matthew John
BTV Epoch Times Tiếng Anh
Matthew John là một nhà giáo và nhà văn kỳ cựu. Ông đam mê lịch sử, văn hóa và văn học kinh điển. Ông hiện đang sống ở thành phố New York.

Quỳnh Chi biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc tại The Epoch Times.


Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn