Các nước đã bắt đầu tái cấu trúc chuỗi cung ứng và chuyển sản xuất ra khỏi Trung Quốc

Cách tiếp cận không khoan nhượng đối với COVID-19 của Trung Quốc đã khiến các thành phố tiếp tục bị phong tỏa, vốn làm trầm trọng thêm tình trạng tắc nghẽn sản xuất và vận chuyển trên toàn cầu. Các chuyên gia cảnh báo rằng các biện pháp cực đoan — và ngoan cố — của Bắc Kinh nhằm ngăn chặn virus này có thể là nguy cơ lớn nhất mà thế giới phải đối mặt vào năm 2022.

Trong báo cáo tháng Một, công ty tư vấn và phân tích rủi ro chính trị của Hoa Kỳ Eurasia Group đã liệt kê chính sách zero COVID của Trung Quốc là rủi ro hàng đầu của thế giới khi bước vào năm 2022.

Bản báo cáo này (pdf) dự đoán rằng cách tiếp cận không khoan nhượng của Bắc Kinh đối với biến thể Omicron có khả năng lây nhiễm cao cuối cùng sẽ thất bại, dẫn đến các đợt bùng phát lớn hơn, đòi hỏi nhiều đợt phong tỏa nghiêm ngặt hơn; và kết quả là, nhà nước sẽ can thiệp nhiều hơn và sự gián đoạn kinh tế cũng lớn hơn.

Báo cáo cho biết, các vấn đề của Trung Quốc làm trầm trọng thêm sự gián đoạn chuỗi cung ứng, điều này sẽ dẫn đến những rủi ro liên tục trên toàn thế giới. Các chính sách xóa sổ COVID của nhà cầm quyền này sẽ khiến cho việc vận chuyển bị hạn chế; nhân viên, nguyên vật liệu, và thiết bị bị thiếu hụt, kéo theo đó là tình trạng hàng hóa sẵn có trên toàn cầu bị giảm sút.

Bà Katrina Ell, nhà kinh tế cao cấp về khu vực Á Châu-Thái Bình Dương tại công ty dịch vụ tài chính Moody’s Analytics, nói với đài CNBC hôm 16/01 rằng chính sách zero COVID nghiêm ngặt của Trung Quốc đã gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và vận chuyển trên toàn cầu, làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng chuỗi cung ứng.

Bà Ell nói thêm rằng xu hướng đóng cửa các cảng và nhà máy thiết yếu nhằm quét sạch COVID của Bắc Kinh sẽ làm tăng cường và kéo dài cuộc khủng hoảng [chuỗi cung ứng] đang diễn ra này.

Theo Tổng cục Hải quan Trung Quốc, năm 2021, nước này xuất cảng hơn 363 tỷ USD quần áo, giày dép, và hàng dệt may, 255 tỷ USD thiết bị và bộ phận xử lý dữ liệu, 146 tỷ USD điện thoại di động, gần 100 tỷ USD đồ gia dụng, 81 tỷ USD thép, 75 tỷ USD phụ tùng xe hơi, và gần 74 tỷ USD đồ nội thất và các sản phẩm khác.

Một nghiên cứu năm 2020 (pdf) của công ty dữ liệu Hoa Kỳ Dun & Bradstreet cho thấy ít nhất 51,000 công ty trên toàn thế giới có một hoặc nhiều nhà cung cấp cấp 1 (Tier 1) ở Trung Quốc và ít nhất năm triệu công ty trên toàn thế giới có một hoặc nhiều nhà cung cấp cấp 2 (Tier 2) ở Trung Quốc.

Nhà cung cấp dịch vụ chuỗi cung ứng, Insight Solutions, xác định nhà cung cấp Tier 1 là thành phần quan trọng nhất trong chuỗi cung ứng.

Nhà cung cấp Tier 1 cung cấp những gì nhà sản xuất phụ tùng gốc (OEM) cần để tạo ra sản phẩm và thiết lập chuỗi. Các nhà cung cấp cấp 1 thường cung cấp các thiết bị sản phẩm gần như là bước hoàn thiện sản phẩm mà các công ty khác có thể gắn nhãn là sản phẩm cuối cùng. Ví dụ, Foxconn là OEM để sản xuất iPhone trên quy mô lớn, nhưng Apple là thương hiệu của công ty.

Các nhà cung cấp Tier 2 là nhà cung cấp chính cho các công ty Tier 1 trong cùng một chuỗi cung ứng. Họ thường không liên hệ trực tiếp với các công ty OEM, nhưng họ là chính yếu trong việc sản xuất các thành phần riêng biệt của sản phẩm cuối cùng.

Trong khi hàng triệu công ty trên toàn thế giới phụ thuộc vào các nhà cung cấp Trung Quốc, thì việc tiếp tục thực hiện các chính sách zero COVID nghiêm ngặt của Bắc Kinh sẽ làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu trên một quy mô lớn.

Phụ thuộc vào sản xuất của Trung Quốc

Theo Tổng cục Hải quan Trung Quốc, trong năm 2021, kim ngạch xuất cảng của Trung Quốc sang Hoa Kỳ, Anh Quốc, và Ấn Độ nhiều gấp ba lần tổng kim ngạch xuất cảng sang Trung Quốc của các quốc gia đó cộng lại. Tương tự, Trung Quốc xuất cảng sang Liên minh Âu Châu và Canada cũng vượt xa những gì Trung Quốc nhập cảng từ họ.

Đặc biệt, tổng kim ngạch xuất cảng của Trung Quốc sang Hoa Kỳ trong năm 2021 vượt quá 576.1 tỷ USD, trong khi tổng kim ngạch nhập cảng từ Hoa Kỳ chỉ là 179.5 tỷ USD, tạo ra thặng dư thương mại là 396.6 tỷ USD cho Trung Quốc.

Ngoài ra, giá cước vận chuyển cao đối với các tuyến Trung Quốc-Hoa Kỳ cũng phản ánh sự phụ thuộc mạnh mẽ của Hoa Kỳ vào hàng hóa Trung Quốc.

Ông Mike Sun, một nhà tư vấn đầu tư tư nhân sống ở Bắc Mỹ, nói với The Epoch Times rằng giá cước vận chuyển container từ Thượng Hải, Ninh Ba, Thanh Đảo, và các cảng phía đông khác của Trung Quốc đến Bắc Mỹ nhìn chung dao động từ 1,400 đến 2,000 USD trong những năm qua. Tuy nhiên, giá cước vận tải container từ Trung Quốc sang Hoa Kỳ hiện nay cao hơn [con số trên] gấp chục lần.

Theo dữ liệu mới nhất từ ​​Sofreight, một nền tảng logistics vận chuyển của Trung Quốc, giá cước hiện tại của một container 40 feet vận chuyển từ các cảng phía đông của Trung Quốc đến các cảng phía tây của Hoa Kỳ là từ 15,000 đến 23,000 USD.

Vào tháng 11/2021, ông Jason Chiang, một giám đốc của công ty Ocean Shipping Consultants có trụ sở tại Singapore, nói với Los Angeles Times rằng một số công ty vận tải biển chỉ cần làm một năm vừa qua đã có thể trả hết được các khoản đầu tư của họ trong 10 năm. Một con tàu chở hàng lớn có thể chỉ cần đi một chuyến duy nhất từ ​​Trung Quốc đến Hoa Kỳ đã lấy lại được số tiền đóng toàn bộ con tàu đó.

Hoạt động vận chuyển chiếm ít nhất 90% sự dịch chuyển của hàng hóa trên toàn cầu. Chi phí vận tải bằng đường biển đã tăng vọt trong năm qua vì tắc nghẽn cảng.

Do lợi nhuận khổng lồ trong việc vận chuyển, sau khi dỡ hàng tại các cảng của Hoa Kỳ, nhiều tàu container không muốn dành thời gian bốc hàng hóa của Hoa Kỳ để trở về lại Trung Quốc. Thay vào đó, họ nhanh chóng chở các container trống quay đầu về Trung Quốc để thực hiện thêm một số chuyến đi giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Hiện tượng này đã gây ra một số tắc nghẽn trong hoạt động xuất cảng hàng hóa của Hoa Kỳ.

Ông Sun cho biết nguyên nhân sâu xa của vấn đề này là do Hoa Kỳ từ bỏ việc sản xuất sản phẩm giá rẻ đến trung bình từ rất sớm, dẫn đến việc nhiều ngành sản xuất chuyển sang Đông Nam Á, đặc biệt là sang Trung Quốc.

Tầm quan trọng của tái cấu trúc chuỗi cung ứng

Hiện nay, nhiều quốc gia và doanh nghiệp đang tái cấu trúc chuỗi cung ứng của họ tách khỏi Trung Quốc, cân nhắc về nhiều rủi ro trong việc này.

Theo một nghiên cứu của trường Đại học Michigan State University (MSU) vào tháng Mười năm ngoái, cựu Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ Wilbur Ross từng nói với Fox Business rằng sự bùng phát của virus ĐCSTQ ở Trung Quốc sẽ là tích cực cho nền kinh tế Mỹ. Ông Ross cho biết việc chính quyền Trung Quốc buộc các nhà máy của họ đóng cửa vì bùng phát dịch bệnh sẽ thúc đẩy các công ty ngoại quốc đánh giá lại chuỗi cung ứng của họ, và giúp đưa việc làm trở lại với Bắc Mỹ nhanh hơn.

Chính sách zero COVID của Trung Quốc có thể là rủi ro hàng đầu của năm 2022
Các nhân viên làm việc trên một dây chuyền sản xuất pin tại một nhà máy ở Hoài Bắc thuộc tỉnh An Huy phía đông Trung Quốc vào ngày 30/03/2020. (Ảnh: STR/AFP/Getty Images)

Tương tự, một đối tác với công ty tư vấn Plante Moran, ông Daron Gifford, cho biết đại dịch có thể có ảnh hưởng lâu dài hơn đến chuỗi cung ứng toàn cầu, ngay cả sau khi cuộc khủng hoảng này qua đi, theo nghiên cứu của MSU trích dẫn ấn phẩm Crain’s Detroit Business.

Ông Gifford nói: “Sẽ rất thú vị, sau khi [đại dịch] này qua đi, nếu như nó bắt đầu thay đổi kế hoạch của một số nhà cung cấp của chúng ta về cách họ sắp xếp chuỗi cung ứng của mình, thì những điều này càng kéo dài và càng có nhiều sự gián đoạn xảy ra trong chuỗi cung ứng, quý vị bắt đầu chuyển hướng sản xuất của mình.”

Tuy nhiên, một số người tin rằng sự chuyển hướng dài hạn và sự “tách rời” hoàn toàn khỏi Trung Quốc là không khả thi, đặc biệt là đối với ngành công nghệ, theo nghiên cứu của MSU trích dẫn từ Forbes.

Ông Razat Gaurav, Giám đốc Điều hành của công ty phần mềm chuỗi cung ứng LLamasoft, cho biết không có lựa chọn ngắn hạn nào khi đối mặt với việc đóng cửa một cơ sở phức hợp trên quy mô “Thành phố iPhone” của Trịnh Châu hay việc chuyển địa điểm sản xuất chất bán dẫn khi một cơ sở “mất 1 tỷ USD để vận hành”.

Nhà sản xuất vi mạch bán dẫn quan trọng nhất thế giới đảm nhận vị trí dẫn đầu

Công ty Sản xuất Chất bán dẫn Đài Loan (TSMC), nhà sản xuất vi mạch bán dẫn theo hợp đồng lớn nhất thế giới, đã thông báo hồi tháng 05/2020 rằng họ sẽ xây dựng một nhà máy trị giá 12 tỷ USD ở Arizona, dự kiến ​​bắt đầu sản xuất số lượng lớn vào năm 2024. Việc xây dựng này dự kiến ​​sẽ hoàn thành vào tháng Bảy.

Kể từ đó, TSMC đã lên kế hoạch cho nhà máy ở Arizona của mình để nhanh chóng nhân rộng các nhà máy của mình ở Đài Loan. Hành động này cho thấy ý định của TSMC nhằm phản ánh chuỗi cung ứng toàn diện ở Đài Loan của mình trên mảnh đất Hoa Kỳ do lo ngại về cuộc xâm lược tiềm tàng của Bắc Kinh.

Chính sách zero COVID của Trung Quốc có thể là rủi ro hàng đầu của năm 2022
Logo của Công ty Sản xuất Chất bán dẫn Đài Loan (TSMC) được nhìn thấy tại trụ sở chính của công ty này, ở Tân Trúc, Đài Loan, hôm 19/01/2021. (Ảnh: Ann Wang/Reuters)

Tạp chí CommonWealth của Đài Loan gần đây đã đưa tin rằng nhà máy mới ở Arizona của TSMC đã nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ chính phủ tiểu bang Arizona. Quá trình xây dựng của nhà máy đang chạy hết công suất, thậm chí không ngừng nghỉ trong dịp lễ Giáng Sinh và Năm Mới.

Theo báo cáo trích dẫn những người trong cuộc của TSMC, công ty này đã đặt hàng tấm wafer quy trình tiên tiến 5 nanomet ở Arizona để tái tạo hoàn toàn nhà máy 5 nanomet của mình ở Nam Khoa, Đài Loan.

TSMC có kế hoạch xuất cảng 26 nhà cung cấp chính từ Đài Loan sang Hoa Kỳ như một phần trong kế hoạch đưa nhà máy Arizona đi vào hoạt động nhanh nhất có thể. Chủ tịch Lưu Đức Âm (Mark Liu) đã mời các nhà cung cấp hóa chất bán dẫn, vật liệu bán dẫn, và các nhà máy khí đốt đặc biệt quan trọng đến để xây dựng lắp đặt cho các xưởng chế tạo tại Hoa Kỳ.

Ngoài việc xuất cảng nhân tài từ Đài Loan, TSMC đã bố trí hơn 100 kỹ sư người Mỹ sang các nhà máy của mình ở Đài Loan để đào tạo tại chỗ.

Để đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà máy ở Arizona, TSMC sẽ tạo các bản sao mô-đun của thiết bị sản xuất tại các nhà máy ở Đài Loan và chuyển chúng đến Arizona theo lô để lắp ráp.

Theo Thời báo Đài Bắc, thế giới này đang phụ thuộc vào vi mạch bán dẫn tân tiến nhất của Đài Loan ở mức 92%. Do đó, Hoa Kỳ tỏ ra lo ngại về những rủi ro địa chính trị do phụ thuộc quá nhiều vào vi mạch bán dẫn do Đài Loan sản xuất. Trước mối đe dọa quân sự nhất quán của Trung Quốc đối với hòn đảo tự trị này, Đài Loan phải bảo vệ công nghệ của mình tránh xa khỏi chính quyền Trung Quốc.

Với việc bảo mật của công ty đang bị đe dọa, TSMC đặt mục tiêu đưa nhà máy chế biến tấm wafer 5 nanomet tiên tiến và chuỗi cung ứng phức hợp sang Hoa Kỳ càng nhanh càng tốt.

Các quốc gia bắt đầu dịch chuyển chuỗi cung ứng ra khỏi Trung Quốc

Hồi tháng 11/2021, Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung Hoa, một tổ chức tư vấn của Đài Loan, đã xuất bản một bài báo phân tích việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu kể từ khi chiến tranh thương mại Mỹ-Trung nổ ra và đại dịch virus ĐCSTQ bùng phát. Bài báo này mô tả xu hướng rõ ràng của các công ty trong các ngành công nghiệp quan trọng đang chuyển dịch chuỗi cung ứng của họ về quê hương mình, đặc biệt là những công ty quan trọng đối với an ninh quốc gia.

Lấy ví dụ về việc các quốc gia cam kết tăng cường nguồn cung cấp thuốc và thiết bị y tế độc lập. Liên minh Âu Châu đang tăng cường năng lực sản xuất thuốc và thiết bị y tế tại địa phương. Hoa Kỳ đang tìm cách chuyển toàn bộ chuỗi cung ứng y tế của mình về nước. Nhật Bản đang trợ cấp nguyên liệu và thiết bị của các nhà máy địa phương sản xuất khẩu trang, chất khử trùng, quần áo bảo hộ, mặt nạ phòng độc, và các sản phẩm y tế khác, bao gồm cả dược phẩm.

Chính sách zero COVID của Trung Quốc có thể là rủi ro hàng đầu của năm 2022
Tổng thống Donald Trump cùng với Chánh văn phòng Tòa Bạch Ốc Mark Meadows được Phó chủ tịch chuỗi cung ứng tích hợp Tony Stallings của Honeywell cho xem mặt nạ bảo vệ khi đi tham quan cơ sở sản xuất của Honeywell cho đợt bùng phát virus ĐCSTQ ở Phoenix, Arizona, vào ngày 05/05/2020. (Ảnh: Tom Brenner/Reuters)

Bài báo trên cũng nhấn mạnh việc các quốc gia cần phải làm việc với các đồng minh và các đối tác cùng chí hướng để xây dựng các chuỗi cung ứng vững mạnh nhanh phục hồi, vì rất khó để một quốc gia tự mình có thể đạt được an ninh chuỗi cung ứng.

Vào tháng 06/2021, Tòa Bạch Ốc đã công bố một báo cáo (pdf) xem xét một số lỗ hổng trong chuỗi cung ứng của Hoa Kỳ. Bốn sản phẩm chính bao gồm sản xuất chất bán dẫn và đóng gói tiên tiến, pin dung lượng lớn, khoáng chất và vật liệu quan trọng, dược phẩm và các thành phần hoạt chất dược phẩm (API).

Báo cáo này đưa ra nhiều khuyến nghị, bao gồm hợp tác với các đồng minh và đối tác để giảm thiểu các lỗ hổng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, và quan trọng nhất là xây dựng lại khả năng sản xuất và khả năng đổi mới trong nước của Mỹ.

Tháng 05/2021, Ủy ban Âu Châu đã phát hành một tài liệu tương tự (pdf) đề xướng các biện pháp nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc một cách có chiến lược trong nhiều lĩnh vực chính, chẳng hạn như nguyên liệu thô, pin, thành phần hoạt chất dược phẩm, hydro, chất bán dẫn, cũng như công nghệ đám mây và công nghệ tiên tiến. Đồng thời nhằm thúc đẩy hợp tác mạnh mẽ hơn giữa các thành viên của Liên minh Âu Châu trong việc củng cố chuỗi cung ứng.

Tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, Nhật Bản đang tích cực cung cấp vốn để hỗ trợ các doanh nghiệp Nhật Bản tại Trung Quốc về lập [nhà máy] tại quê nhà hoặc chuyển đến các nước ASEAN, Ấn Độ, hoặc các nước khác. Họ cũng đang thảo luận về kế hoạch tăng cường hợp tác kinh tế với các nước ASEAN. Ấn Độ và Úc cũng ủng hộ mục tiêu đa dạng hóa chuỗi cung ứng của Nhật Bản ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Quan điểm trong bài viết này là ​​của tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của The Epoch Times.

Cô Anne Zhang là một cây bút của The Epoch Times chuyên viết về các chủ đề liên quan đến Trung Quốc. Cô bắt đầu viết cho ấn bản Hoa ngữ vào năm 2014.

Hồng Ân biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc từ The Epoch Times

Xem thêm: 

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn