Sự tồn tại của protein gai trong cơ thể có liên quan chặt chẽ đến hội chứng COVID kéo dài và hậu chích vaccine. Tác động của protein gai từ vaccine mRNA COVID-19 đối với sức khỏe con người đang là chủ đề ngày càng được quan tâm gần đây. Trân trọng giới thiệu với quý độc giả Chuyên đề 17 phần về Protein gai: Những tổn thương và những cập nhật về điều trị.

Phần 1: Protein gai làm gián đoạn khả năng miễn dịch của hàng triệu người nhiễm COVID hoặc sau chích ngừa: Cách điều trị protein gai

Phần 2: Protein gai từ mũi chích COVID vẫn tồn tại trong cơ thể và ảnh hưởng đến DNA: Một cách toàn diện để sửa chữa DNA và giảm tác hại của protein gai

Phần 3: TIN ĐỘC QUYỀN: Protein gai có thể tạo ra huyết khối bất thường

Phần 4: TIN ĐỘC QUYỀN: Các dấu hiệu cho thấy bạn có huyết khối protein gai và bạn cần phải làm gì

Phần 5: Những cách tự nhiên tăng khả năng tự thực bào và giải độc protein gai sau nhiễm COVID và sau chích vaccine

Phần 6: Tự thực bào chữa lành những tổn thương do protein gai

Phần 7: Cách sử dụng Resveratrol cho các triệu chứng liên quan đến protein gai COVID

Phần 8: LDN điều trị các bệnh và các tổn thương do protein gai

Phần 9: Bác sĩ chia sẻ giải pháp thay thế khi liệu pháp điều trị protein gai thường quy gặp thất bại

Phần 10: Liệu pháp oxy cao áp trong điều trị tổn thương do vaccine và hội chứng COVID kéo dài

Liệu pháp oxy cao áp có thể chữa lành tổn thương não do protein gai gây ra

Liệu pháp oxy cao áp (HBOT – Hyperbaric oxygen therapy) là một phương pháp làm tăng nồng độ oxy máu để đẩy nhanh quá trình lành vết thương và loại bỏ nhiễm trùng do vi khuẩn. Theo kinh nghiệm lâm sàng của nhiều bác sĩ và một số nghiên cứu gần đây, liệu pháp này có thể hữu ích trong việc điều trị tổn thương do vaccine COVID và hội chứng COVID-19 kéo dài.

Tiến sĩ Paul Marik, người đồng sáng lập Front Line COVID-19 Critical Care Alliance (FLCCC), cho biết: “Lần đầu tiên khi nghe về [HBOT], tôi đã nghĩ, điều này thật là nực cười.”

Sau đó, ông Marik gặp một bệnh nhân là vận động viên đua xe đạp, người đã phải nằm liệt giường sau khi chích vaccine COVID-19.

Ông nói: “Anh ấy mất khả năng hoạt động hoàn toàn. Nhưng trong khoảng năm hay sáu buổi thở oxy cao áp, [anh] đã có thể đạp xe trở lại.”

Ông Marik nói với The Epoch Times, một số bệnh nhân bị tổn thương do protein gai có phản ứng đặc biệt tốt với oxy cao áp.

Tiến sĩ Paul Marik, người đồng sáng lập Front Line COVID-19 Critical Care Alliance (FLCCC) và là cựu trưởng Khoa Hô hấp và Chăm sóc Đặc biệt tại Trường Y khoa Đông Virginia. Ảnh chụp tiến sĩ tại hội nghị FLCCC “Understanding & Treating Spike Protein-Induced Diseases” ở Kissimmee, Floria hôm 14/10/2022. (Ảnh: The Epoch Times)
Tiến sĩ Paul Marik, người đồng sáng lập Front Line COVID-19 Critical Care Alliance (FLCCC) và là cựu trưởng Khoa Hô hấp và Chăm sóc Đặc biệt tại Trường Y khoa Đông Virginia. Ảnh chụp tiến sĩ tại hội nghị FLCCC “Understanding & Treating Spike Protein-Induced Diseases” ở Kissimmee, Floria hôm 14/10/2022. (Ảnh: The Epoch Times)

Cơ chế hoạt động của HBOT

HBOT là một phương pháp mà bệnh nhân nhận được oxy nguyên chất 100% từ buồng cao áp dưới điều kiện áp suất lớn hơn áp suất khí quyển (1 atmosphere tiêu chuẩn.)

Vì oxy chỉ chiếm 21% khí quyển, việc tăng áp suất oxy nguyên chất có thể làm tăng nồng độ oxy máu.

Tùy vào việc kiểm soát áp suất, nồng độ oxy máu có thể tăng gấp ba so với bình thường.

Phương pháp này được dùng chủ yếu để chữa lành tổn thương, bao gồm cả tổn thương bên trong và bên ngoài cơ thể.

Tế bào cần có oxy để duy trì hoạt động. Ty thể cần oxy để phân hủy đường thành năng lượng, do vậy, việc tăng nồng độ oxy máu sẽ đẩy nhanh quá trình tăng sinh và tái tạo mô. Nồng độ oxy cao cũng giúp loại bỏ nhiễm trùng do vi khuẩn.

HBOT hiện đang được chấp thuận là phương pháp điều trị cho 15 loại tổn thương và bệnh lý khác nhau, bao gồm ngộ độc khí carbon monoxide, tổn thương mô, mất máu, bỏng, ghép da, nhiễm trùng mô mềm và áp xe nội sọ.

Bên ngoài Hoa Kỳ, Liên Bang Nga liệt kê 70 bệnh, Trung Quốc liệt kê 49 bệnh và Nhật Bản liệt kê 33 bệnh có thể điều trị bằng HBOT.

Tiến sĩ Paul Harch, một chuyên gia HBOT nổi tiếng và là người sáng lập Harch Hyperbarics, cho biết tại hội nghị FLCCC ở Kissimmee, Florida, rằng bệnh học cơ bản của tổn thương chủ yếu là do quá trình viêm nhiễm; HBOT sửa chữa tổn thương bằng cách giảm viêm và đẩy nhanh quá trình tái sinh trưởng.

Do viêm là tình trạng cơ bản của nhiều bệnh lý, HBOT về mặt lý thuyết có thể áp dụng cho nhiều bệnh khác nhau, thậm chí cả vết thương do tiểu đường, một bệnh chuyển hóa do viêm gây ra.

Trong một nghiên cứu được công bố vào năm 1987 về HBOT, các tác giả đã liệt kê 132 bệnh lý y khoa có thể điều trị bằng liệu pháp này.

Ông Harch là người đã điều trị 90 đến 100 bệnh lý khác nhau bằng HBOT, với phần lớn tổn thương có liên quan đến thần kinh.

Tiến sĩ Paul Harch, người sáng lập Harch Hyperbarics, nói tại hội nghị FLCCC ở Kissimmee, Florida, hôm 15/10/2022. (Ảnh: Oliver Trey/NTD News)
Tiến sĩ Paul Harch, người sáng lập Harch Hyperbarics, nói tại hội nghị FLCCC ở Kissimmee, Florida, hôm 15/10/2022. (Ảnh: Oliver Trey/NTD News)

HBOT làm thay đổi biểu hiện của gen

HBOT có thể giảm viêm nhờ khả năng tác động đến di truyền học biểu sinh.

Di truyền học biểu sinh là những yếu tố làm thay đổi hoạt động của gen. Tùy vào yếu tố môi trường như căng thẳng, cách ăn uống, thuốc men và liệu pháp điều trị, một số gen nhất định có thể bị kích hoạt hoặc ức chế.

“Ngạc nhiên thay, chính hiện tượng gia tăng áp suất, chứ không phải nồng độ oxy hòa tan, dường như trở thành yếu tố trung gian cho tác động này,” các bác sĩ của FLCCC đã viết trong khuyến nghị điều trị.

Với HBOT, nếu áp suất oxy càng cao thì sự thay đổi biểu hiện của gen càng lớn và lợi ích chung theo đó càng lớn.

Do đó, FLCCC khuyến nghị dùng HBOT ở áp suất cao. Nhưng bác sĩ lâm sàng cần theo dõi quá trình điều trị để ngăn ngừa độc tính của oxy.

Một nghiên cứu trong ống nghiệm trên tế bào vi mạch của người đã phát hiện, tế bào khi tiếp xúc với oxy cao áp ở 2.4 atm tiêu chuẩn trong 60 phút đã có những thay đổi về biểu hiện gen ở 8,101 gen trong 24 giờ sau đó.

HBOT làm tăng biểu hiện của gen chống viêm và giảm hoạt động của gen gây viêm.

Khi tiếp xúc với oxy nguyên chất ở áp suất thông thường, tế bào có “sự thay đổi tối thiểu” trong biểu hiện gen, chứng tỏ áp suất là nhân tố chính trong liệu pháp điều trị tổng thể.

Một nghiên cứu khác trên chuột cũng cho thấy ý nghĩa quan trọng của áp suất. Nghiên cứu cho biết tùy vào loại áp suất môi trường, số lượng gen biểu hiện với mỗi áp suất khác nhau là khác nhau.

Tác giả nghiên cứu đã cho chuột tiếp xúc với không khí bình thường, oxy nguyên chất ở áp suất bình thường và oxy nguyên chất ở áp suất cao. Dữ liệu cho thấy, sự gia tăng nồng độ oxy dẫn đến sự gia tăng biểu hiện của gen.

Ty thể, một bào quan có màng bao bọc, có chức năng sản xuất năng lượng, hình minh họa 3D. (Ảnh: Kateryna Kon/Shutterstock)
Ty thể, một bào quan có màng bao bọc, có chức năng sản xuất năng lượng, hình minh họa 3D. (Ảnh: Kateryna Kon/Shutterstock)

Những thay đổi sinh lý do oxy cao áp

HBOT hiện được khuyến nghị là phương pháp điều trị bậc ba cho các triệu chứng hậu chích vaccine COVID, với thuật ngữ chung là hội chứng hậu chích vaccine COVID.

Các bác sĩ của FLCCC lý giải rằng việc tiếp xúc lâu dài với protein gai đã dẫn đến hội chứng COVID kéo dài và hội chứng hậu chích vaccine COVID, do làm rối loạn điều hòa miễn dịch và viêm nhiễm. Do vậy, về mặt lý thuyết, HBOT có thể là phương pháp điều trị tiềm năng.

Nghiên cứu cho thấy HBOT có thể ức chế con đường gây viêm và giảm hoạt động của con đường thụ thể toll-like tiền viêm, cả hai đều được kích hoạt trong nhiễm COVID-19 cấp tính và bệnh lý do protein gai.

HBOT cũng được chứng minh có thể điều trị mệt mỏi, thường là dấu hiệu của rối loạn chức năng ty thể.

Ty thể chịu trách nhiệm phân hủy và chuyển hóa đường thành năng lượng, đồng thời sử dụng oxy làm chất phản ứng chính trong quá trình sinh hóa này.

Trong quá trình hội chứng COVID kéo dài và hậu chích vaccine COVID dẫn đến tình trạng viêm nhiễm, protein gai có thể gây căng thẳng cho ty thể, làm giảm sản xuất năng lượng và sinh ra gốc tự do có hại. Việc điều trị bằng HBOT cung cấp lượng oxy bổ sung, mang lại nguồn nguyên liệu phong phú cho ty thể để tăng sản xuất năng lượng.

HBOT cũng giúp giải phóng tế bào gốc và yếu tố tăng trưởng mô.

Nhiều nghiên cứu cho thấy phương pháp này có ích trong việc đẩy nhanh quá trình tái tạo mô, bao gồm tái tạo tế bào cơ và tạo ra mạch máu mới. Điều này cho thấy HBOT có thể giúp sửa chữa tổn thương mô do protein gai.

Triệu chứng thần kinh là những triệu chứng chính trong hội chứng COVID kéo dài và hậu chích vaccine COVID. Cũng có nhiều nghiên cứu cho thấy HBOT giúp đẩy nhanh quá trình tạo mô thần kinh, mặc dù HBOT chưa được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm chấp thuận cho việc điều trị các bệnh lý này.

Ông Harch đã điều trị thành công tổn thương trong não, hay gần như đảo ngược tình trạng tổn thương não, ở một bé gái 2 tuổi bị ngạt nước vào năm 2017.

Ông cho biết cô bé đã bị tổn thương não sâu và “không nói được, không đi được hoặc không đáp ứng với các mệnh lệnh mà liên tục cựa quậy và lắc đầu.”

Nhưng sau 40 buổi điều trị, cô bé đã có chức năng vận động gần như bình thường; nhận thức, dáng đi, tính tình trở lại bình thường; và cải thiện hầu hết các vấn đề về thần kinh. Theo một tuyên bố của LSU Health New Orleans, ngôn ngữ của cô bé đã được cải thiện ở mức cao hơn so với trước khi ngạt nước, và cô bé cũng ngừng sử dụng tất cả loại thuốc của mình.

Các nghiên cứu cũng phát hiện HBOT làm tăng lượng máu và thay đổi các vi cấu trúc; khiến chức năng não được cải thiện, bao gồm chức năng nhận thức, dáng đi và giấc ngủ.

(Ảnh: Shutterstock)
(Ảnh: Shutterstock)

HBOT trong điều trị bệnh lý do protein gai

Các nghiên cứu cho biết HBOT có thể giúp ích cho việc điều trị COVID-19 và hội chứng COVID kéo dài. Có nhiều tài liệu về HBOT cho thấy kết quả tích cực trong việc điều trị COVID-19.

Theo tác giả nghiên cứu, một nghiên cứu của Hoa Kỳ năm 2020 ở năm bệnh nhân dương tính với COVID đã cho thấy “sự cải thiện đáng kể sau khi dùng HBOT.”

Tất cả bệnh nhân COVID-19 đều có nồng độ oxy thấp, nhịp thở nhanh và tình trạng viêm nhiễm. Sau một đến sáu buổi điều trị bằng HBOT, các dấu hiệu viêm đã giảm và tình trạng thở nhanh đã chấm dứt.

“Quan trọng nhất, HBOT có thể làm giảm nhu cầu thở máy,” các tác giả viết.

Trong một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng ở Argentina, HBOT được dùng để điều trị bệnh nhân COVID-19 có nồng độ oxy thấp. Nghiên cứu đã bị dừng lại sau khi phân tích tạm thời kết quả của 40 bệnh nhân. Sự khác biệt giữa nhóm điều trị và không điều trị là hoàn toàn rõ ràng.

Bệnh nhân được điều trị bằng HBOT đã cải thiện nồng độ oxy máu sau ba ngày, so với nhóm không điều trị có sự cải thiện sau chín ngày.

Đặc biệt, các nghiên cứu về COVID kéo dài cho thấy HBOT có tác động đáng kể đến việc điều trị mệt mỏi và chứng sương mù não, nhờ cải thiện khả năng chú ý, trí nhớ, xử lý thông tin và sức khỏe tâm thần.

Trong một nghiên cứu của Israel được công bố vào tháng Bảy trên 73 bệnh nhân bị COVID kéo dài, một nửa số người (37) được điều trị bằng HBOT và nửa còn lại (36) được dùng giả dược. Các bệnh nhân được điều trị năm lần mỗi tuần và quy trình bao gồm thở oxy nguyên chất bằng mặt nạ ở mức 2 atmosphere tiêu chuẩn trong 90 phút.

Các tác giả nhận thấy nhóm dùng HBOT có sự cải thiện về chức năng nhận thức, sự chú ý và chức năng điều hành tổng thể, với những cải thiện đáng kể về năng lượng, giấc ngủ, sức khỏe tâm thần và giảm đau.

Hình ảnh chụp quét não ở những bệnh nhân này cũng cho thấy lưu lượng máu được cải thiện ở một số khu vực nhất định.

FLCCC khuyến nghị HBOT nên được dùng như một phương pháp điều trị bậc ba, do đây là phương pháp “có thể cứu sống bệnh nhân này nhưng không hiệu quả với bệnh nhân khác.”

Ông Marik lưu ý rằng chi phí điều trị cao và sự khác biệt về sinh lý bệnh có thể khiến việc điều trị không phù hợp với tất cả mọi người. Ông khuyến nghị hiện HBOT chỉ nên dành cho những bệnh nhân bị hội chứng hậu chích vaccine có bệnh lý thần kinh nghiêm trọng, đặc biệt là đau dây thần kinh ngoại biên. Chống chỉ định cho liệu pháp này bao gồm tràn khí màng phổi chưa được điều trị.


Marina Zhang
BTV Epoch Times Tiếng Anh
Cô Marina Zhang là một cây viết về sức khỏe của The Epoch Times, cư trú tại New York. Tốt nghiệp cử nhân y sinh học tại Đại học Melbourne, cô chuyên đưa tin về các câu chuyện về COVID-19 và hệ thống chăm sóc sức khỏe. Quý vị có thể liên lạc với cô qua [email protected]

Thanh Ngọc biên dịch

Quý vị tham khảo bản gốc từ The Epoch Times

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn