Các ngành kỹ nghệ cần nhiều lao động vẫn tuyệt vọng trong việc tuyển dụng, trong khi đó sinh viên tốt nghiệp đại học phải đối mặt với nguy cơ bị sa thải

Khi cuộc suy thoái bắt đầu, thị trường lao động Hoa Kỳ dường như bị mắc chứng tâm thần phân lập. 

Các ngành kỹ nghệ như dầu khí vẫn tuyệt vọng trong việc tuyển nhân công, trong khi nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học có thể sớm nhận ra mình đang sắp bị thất nghiệp. Đồng thời, thời kỳ hậu đại dịch đã chứng kiến ​​số lượng kỷ lục những người lao động đủ tiêu chuẩn sức khỏe cùng nhau rời bỏ thị trường lao động, cũng như năng suất sụt giảm trong nhóm những người trụ lại với công việc. 

Ông Anthony Gallegos, Giám đốc điều hành của Công ty Khoan Hợp đồng Độc lập, là một trong những người đang gặp khó khăn trong việc tuyển đủ nhân viên. Ông nói rằng thiếu nhân công là một điều trở ngại cho toàn bộ ngành kỹ nghệ dầu khí.

“Theo quan điểm của tôi, rốt cuộc nhân công là yếu tố then chốt để Hoa Kỳ có khả năng đáp ứng yêu cầu về các nguồn tài nguyên [năng lượng] truyền thống của mình,” ông Gallegos nói với The Epoch Times. “Nếu quý vị từ 18 tuổi trở lên, có thể vượt qua cuộc kiểm tra về ma túy và thể chất, thì chúng tôi sẽ thuê mướn, đào tạo quý vị, và chúng tôi sẽ trả cho quý vị một khoản tiền lương thực sự xứng đáng.”

Mức lương khởi điểm cho nhân viên của ông là khoảng 70,000 USD cho nửa năm làm việc vì các ca làm việc là luân phiên làm hai tuần và nghỉ hai tuần — nhưng công việc này rất nặng nhọc. 

“Trong ngành này, một ngày [làm việc] có cảm giác rất dài; quý vị phải làm việc xa nhà,” ông nói. “Trong lĩnh vực khoan dầu, quý vị ở trong môi trường đó hầu hết cả ngày, vì vậy quý vị cảm nhận được cái nóng 100 độ F (37.8 độ C) của Tây Texas, quý vị cảm nhận được những đêm lạnh giá, quý vị cảm nhận được mưa rơi khi trời mưa.” 

Công ty Khoan Hợp đồng Độc lập đã tuyển thêm khoảng 400 nhân công trong hai năm qua khi ngành dầu khí phục hồi sau những đợt phong tỏa vì đại dịch COVID-19. 

“Mỗi tháng chúng tôi tổ chức một vài hội chợ việc làm,” đến các thị trấn nhỏ khắp đất nước, theo ông Gallegos.

Ông nói: “Chúng tôi có các sự kiện tuyển dụng, và chúng tôi quảng cáo trên mạng xã hội vì đó là nơi mà rất nhiều những thanh niên này nhận được thông tin.” 

Mặc dù mức lương và phúc lợi hậu hĩnh, nhưng việc giữ chân nhân viên cũng khó như việc tuyển dụng, một khi họ nhận ra công việc này đòi hỏi các yêu cầu thể lực. Và nhiều khi, “họ không chỉ thiếu các kỹ năng làm việc căn bản, chẳng hạn như cờ lê là gì, mỏ lết là gì, cách sử dụng búa, mà họ còn thiếu cả những kỹ năng sống căn bản.” 

Ông Gallegos nói: “Chúng tôi phải dạy rất nhiều người cách giặt giũ quần áo, nấu ăn và những điều đại loại như thế.” 

Ông Ed Yardeni, chủ tịch Yardeni Research, nói với The Epoch Times: “Càng ngày, các doanh nghiệp sẽ nhận ra rằng tình trạng thiếu hụt [nhân công] là vấn đề kinh niên, rằng chúng mang tính cấu trúc, rằng họ sẽ không thu hút thêm nhân công bằng cách tăng lương. Càng ngày, các công ty sẽ phải chi tiêu nhiều hơn cho công nghệ và thiết bị sản xuất để tăng năng suất của người lao động.” 

Tình trạng thiếu hụt nhân công này có một nguyên nhân về nhân khẩu học, khi mà những người cuối cùng thuộc thế hệ bùng nổ trẻ sơ sinh đã về hưu. Nhưng có một nguyên nhân nữa có lẽ đơn giản là thế hệ người Mỹ trẻ hơn đã khác xưa.  

Âm thầm bỏ việc

Một trong những xu hướng mới nhất của lứa tuổi 20 và 30 là “âm thầm bỏ việc”, theo xu hướng này người ta đăng hình ảnh của mình đang ở chỗ làm nhưng không làm việc lên TikTok.  Âm thầm bỏ việc được hiểu theo nghĩa rộng hơn là làm việc ở mức tối thiểu nhất để không bị sa thải.

Cục Thống kê Lao động (BLS) báo cáo rằng năng suất lao động của Hoa Kỳ đang giảm xuống. Theo báo cáo này, quý hai năm 2022 có “năng suất lao động giảm 2.5% so với cùng kỳ năm trước, mức giảm nhiều nhất trong chuỗi dữ liệu, bắt đầu từ quý một năm 1948.” 

“Tôi có ấn tượng rằng tham vọng của người lao động đã giảm sút xét từ góc độ văn hóa, điều mà quý vị có thể dự đoán được sau các đợt phong tỏa,” ông Jeffrey Tucker, chủ tịch Viện Brownstone đồng thời là một cộng tác viên cho Epoch Times, cho biết. “Tuy nhiên quan niệm làm việc chăm chỉ sẽ gặt hái được thành công, vốn đã ăn sâu vào lý tưởng của người Mỹ, đã không còn thật với chúng ta nữa. Và đó cũng là do hậu quả của lạm phát. Sức mua của quý vị giảm nhanh chóng khi mà mức lương không thể nào theo kịp. Chúng ta vừa mới chứng kiến một cuộc sụp đổ hoàn toàn về mức lương thực tế ở đất nước này mà chưa thấy dấu hiệu phục hồi nào.” 

“Chỉ riêng về các khoản thanh toán chuyển khoản thì Quốc hội đã chi ra 6 ngàn tỷ USD rồi. Nếu quý vị rót đầy tài khoản ngân hàng của người dân với số tiền mà họ chưa bao giờ yêu cầu, mà chẳng liên quan gì đến nhu cầu, [thì sẽ] làm rối loạn các thiết bị báo hiệu bình thường mà chúng ta có trong xã hội, đó là quý vị phải làm việc chăm chỉ để được trả lương và sống sung túc hơn.” 

Nhà kinh tế học Arthur Laffer giải thích điều đó thông qua cái mà ông gọi là “định lý chuyển giao”.

“Hễ quý vị phân phối lại thu nhập, quý vị luôn làm tổng thu nhập giảm đi,” ông Laffer nói với The Epoch Times. “Hễ quý vị lấy đi của người có nhiều hơn một chút, thì quý vị làm giảm động lực sản xuất của người đó và người đó sẽ sản xuất ít hơn một chút. Khi quý vị đưa cho người có ít hơn một chút, quý vị mang đến cho người đó một nguồn thu nhập thay vì phải làm việc, và người đó cũng sẽ sản xuất ít hơn một chút. Nếu quý vị đánh thuế người đang làm việc và đưa [khoản tiền này] cho người không làm việc, thì quý vị đang khiến người ta làm việc ít đi.”  

Như họ nói trong kinh tế học, quý vị sẽ thu về nhiều hơn những gì quý vị trợ cấp. 

“Quý vị đã chứng kiến tỷ lệ nhân công trong lực lượng lao động sụt giảm đáng kể,” ông nói, lưu ý rằng tỷ lệ tham gia lao động của Hoa Kỳ — tỷ lệ những người đang làm việc hoặc đang tìm việc trong tỷ lệ dân số thông thường  — giảm mạnh, từ 67% năm 2000 xuống còn 62% hiện nay. “Quý vị có thể giải thích 0.5% hoặc 1% là do nhân khẩu học, nhưng đây thật sự là những người lựa chọn không đi làm.” 

Các kinh tế gia đang bàn đến việc vắng bóng 1 triệu nhân công, những người đã rời bỏ nền kinh tế kể từ sau các đợt phong tỏa do COVID-19, nhưng ông Laffer nói rằng nếu quý vị tính đến sự tăng trưởng dân số tổng thể và các cơ hội việc làm sẵn có, thì mức chênh lệch có thể lên tới 6 triệu nhân công vắng mặt. 

Hai thị trường lao động khác biệt

Tuy nhiên, nhu cầu nhân công có thể đạt đỉnh điểm, ít ra là đối với sinh viên tốt nghiệp đại học. Lạm phát đã khiến người Mỹ nghèo hơn đáng kể, và các công ty lâm vào cảnh túng quẫn khi mọi người cắt giảm chi tiêu. Các công ty đã thông báo sa thải nhân viên gồm có cả JPMorgan Chase, Wells Fargo, Netflix, Peloton, Wayfair, Robinhood, Shopify, 7-Eleven, Vimeo, Tesla, Rivian, Ford, Microsoft, Re-Max, và Better.

“Nếu cho rằng thị trường lao động chỉ là một dạng tập hợp đồng nhất nào đó thì thật sai lầm,” ông Tucker nói. “Tình trạng thiếu lao động trầm trọng nhất hiện nay là ở thế giới thực [trong đó có các nghề tài xế xe tải, công nhân nông trại, và phi công]. Các công việc liên quan đến các lớp học trực tuyến qua Zoom, liên quan đến quản lý, và được trả lương sáu con số thì dư thừa người. Và khi quy mô của các công ty lớn có các bộ phận hành chính và hậu cần đồ sộ này tiếp tục bị thu hẹp lại, thì họ sẽ xem xét cần phải cắt giảm vị trí nào. Ai cũng đều chú ý đến những quản lý, chuyên gia nhân sự bị dư thừa quá nhiều, và đó là những người sẽ phải ra đi.” 

Ông Jori Houck, phát ngôn viên của Hiệp hội Giáo dục Kỹ thuật và Nghề nghiệp (ACTE), nói với The Epoch Times rằng sinh viên tốt nghiệp từ các trường công nghệ, đại học cộng đồng, và các chương trình khoa học, công nghệ, kỹ thuật, và toán học (STEM) vẫn nhận được lời mời làm việc, với triển vọng lương cao hơn so với các sinh viên tốt nghiệp ngành nghệ thuật khai phóng.

“Về tiềm năng về thu nhập của những người có bằng cao đẳng liên kết trong các ngành kỹ thuật, chăm sóc sức khỏe, cũng như xây dựng và thương mại có tay nghề cao, họ đang cân nhắc đến mức thu nhập trung bình cả đời cao hơn 2.8 triệu USD so với những nhân sự có bằng cử nhân nghệ thuật khai phóng đó,” ông Houck nói. “Tôi đã còn thấy một thống kê khác rằng những người có bằng cao đẳng liên kết được trả lương cao hơn tới 10,000 USD mỗi năm so với những người có bằng cử nhân trong cùng các lĩnh vực kỹ thuật và chăm sóc sức khỏe đó.”

“Những vị trí việc làm này đang ở ngoài kia và có sẵn ngay bây giờ. Và quý vị không cần học bốn năm ở một cơ sở giáo dục. Tôi cho rằng chúng ta hiện đang chứng kiến học sinh và các bậc cha mẹ đặt ra nghi vấn về giá trị thật sự của tấm bằng bốn năm. Và vì thế thách thức của chúng ta đã là, làm sao để chúng ta vượt qua nỗi hổ thẹn rằng giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp chỉ đơn giản là trường dạy nghề? Chương trình này đã không còn chỉ là trường dạy nghề trong vài thập niên rồi.” 

Ông Houck cho biết các chương trình CTE thường bao gồm học nghề và “học hỏi dựa trên công việc, nơi sinh viên của chúng tôi đang làm một công việc từ chín giờ sáng đến năm giờ chiều, đưa các em ra khỏi nơi đó và nhận thức về thực tế của thế giới lao động” trước khi các em tốt nghiệp. Các ngành học phổ biến cho sinh viên CTE ngày nay bao gồm dịch vụ vận tải, xây dựng và ngành kiến trúc, sản xuất chính xác, thông tin máy điện toán, dịch vụ ẩm thực, công nghệ, và khoa học.

“Tôi nghĩ từ lâu chúng ta đã gửi đi một tín hiệu ở đất nước này rằng nếu anh không có bằng đại học thì anh chẳng là gì cả, nhưng điều đó đơn giản là không đúng,” ông Gallegos nói. “Có rất nhiều ngành nghề mà tại đó một cá nhân có thể được cộng đồng xem trọng, thật sự kiếm được nhiều tiền, và chu cấp cho gia đình của mình.” 


Kevin Stocklin
BTV Epoch Times Tiếng Anh
Ông Kevin Stocklin là một nhà văn, nhà sản xuất phim, và là cựu nhân viên ngân hàng đầu tư. Ông đã viết và sản xuất tác phẩm “We All Fall Down: The American Mortgage Crisis” (“Chúng Ta Đều Sụp Đổ: Cuộc Khủng Hoảng Thế Chấp Của Mỹ”), một bộ phim tài liệu năm 2008 về sự sụp đổ của hệ thống tài chính thế chấp của Hoa Kỳ.

Thanh Nguyên biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc từ The Epoch Times


Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn