Tiếp theo của phần V

XIV Cung-oán

Thợ giời thêu dệt khéo ghê đường !

Dan-dảy hồng-nhan sự lạ thường.

Điện Hán há rằng phai nhạt phấn,

Cung Đường nỡ để thẹn-thùng gương !

Lò chăn thuý-vũ năm canh gió,

Dầm gối san-hồ một vết sương.

Chỉ thiết nỗi mình nên thắc-mắc,

Thuyền-quyên nông nổi phận lạ thường!

Kẽo-quẹt ngại thay một chữ tình !

Thôi đừng dở-dói lại buồn tênh

Ngân rầu-rĩ dế cùng đua tiếng,

Mặt ủ-ề loan khéo dạm hình.

Hoa đặm rầu chiều kề trước sổ,

Nguyệt mơ-màng vẻ xế bên mành.

Đài dương bao nỡ hơi xuân bén,

Đừng để riêng ai chịu bất-bình.

Hiu-hắt chồi ngô đã xế mành,

Lòng sầu thấy cảnh nhãng bao đành !

Nguồn ân chẳng tố mà hao cạn,

Bể thảm không dềnh cũng nổi-nênh.

Hương đốt hồn hua quang vẫn khói,

Gương giơ trâm ngọc đạp lay doành,

Chín lần ví thấu nguồn cơn ấy,

Thì cũng nên thương kẻ hữu tình.

Lêu- đễnh làm chi đám cửa quyền ?

Canh thâu trằn-trọc luống cô-miên !

Rèm hoa tơi-tả vài chồi liễu,

Trướng gấm êm mềm chiếc gối uyên.

Nung đúc lửa Tương lò thát-ất,

Long-lanh giọt lệ lạch đào-nguyên.

Cung Đường rầu-rĩ là nhường ấy

Nghĩ mãi thêm đeo nặng gánh phiền !

Gượng mặt sầu lên gọi đứa hầu,

Văn-phòng chắp-chảnh một đôi câu.

Nghiên chưa mở đã mềm lòng đá,

Mực thoắt mài thôi lần giọt châu.

Bút chép chữ chân ra chữ thảo,

Giấy đề thơ cảnh hoá thơ sầu !

Cũng mong mượn thế làm khuây khoả,

Dẫu thế mà khuây-khoả được đâu !

Cuốn bức khăn là nước mắt đầy,

Nỗi riêng mình lại một mình hay !

Con chim bạt gió ngâm sầu đỡ,

Chiếc nhạn kinh sương nặng tủi dày.

Giời bốn mùa, thu hoa ủ mặt,

Rèm năm canh, nguyệt liễu tan mày.

Nỗi-niềm thắc-mắc chi cho bận,

Cung Quảng kìa ai cũng thế này !

Đoá hoa phô nhị giọt sương gieo,

Ngẫm phận hồng-nhan có khác nào.

Hoa nở hang sâu hoa gác tía,

Giotj sa bể Sở giọt ngòi Tàu.

Mới hay lừng-lẫy vì duyên thắm,

Đừng có khoe-khoang những má đào !

Nhắn hỏi mấy người phen chuyện cũ,

Rằng xưa Vương-thị những làm sao ?

Dù tươi dù ủ phận âu là.

Nghĩ đức sinh-thành luống xót-xa !

Châu quế tháng ngày thôi thế ấy,

Ngọt bùi khuya sớm biết bao-la !

Sum-vầy khôn ước ngày con trẻ,

Chua-xót thêm phiền dạ kẻ già !

Cay đắng bấy nao tay tạo-hoá,

Muốn lên đến đấy gọi cho ra !

Điện phong cao thẳm thấu cùng chăng,

Cung Quảng sao riêng phụ ả Hằng ?

Bức lạnh lầu trang sương đóng váng,

Mây giăng non Thục yến khuây chừng.

Lò chăn thuý màu hôi quyện,

Thấm khăn là nước mắt ngừng.

Phận nổi lênh-đênh bao xiết kể,

Vì xây sầu nọ ắt nên từng !

(Trích ở quyển Quốc-âm thi ca tạp-lục, sách viết bằng chữ Nôm của trường Bác Cổ, số A B 296, tờ 4B-7B) (1)

XV: Mẹ ơi, con muốn lấy chồng (2)

(Hạn vần : Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao !)

Tình mẹ có hay ? Nghĩ con không dại, phải kén tấm chồng, mới yêu phận gái ; đẹp lòng kia gặp gỡ là nên, thuận ý nọ lứa đôi cũng phải. Mẹ suy bụng mẹ, sao yên gia-thất mới đành ; con nghĩ lòng con, cũng muốn cơ-đồ được thoả.

Tưởng như con nay, gặp khi sen ngó, đương thủa đào tơ, kể bậc phong-lưu yếm thắm giải đào chỉ tha-thướt, cũng thời trang-điểm môi son má phấn chi nhởn-nhơ. In màu bồ-liễu chi xuân, đêm ngày gìn-giữ, hé cửa động đào chi nguyệt, năm-tháng đợi-chờ, bởi ai chểnh mảng, nên kẻ hẫng-hờ ? Tin yến đưa thoi, thấp thoáng bóng câu chi ruổi, khúc hoàng lọt tiếng, bâng-khuâng hồn bướm chi mơ. Chỉn e điều voi cái chi cười, thiệt công mà dại, những gìn tiếng chó con chỉ trách, thấy của liền vơ.

Thưa con nghĩ thế, xin mẹ nghe ra, cũng đôi chúng bạn, cũng một lứa nhà, người sao đã có mình vẫn không mà ? Chẳng thanh tĩnh tu đà thành Phật, dẫu chính chuyên thác cũng ra ma. Sao kia còn có bà Ngâu, sông Ngân đợi bắc cầu qua bến, giăng nọ vẫn nuôi chú cuội, cánh mây khép kín cửa trong nhà ? Xem vật loại cũng ở trong khuôn trời đất, ngẫm chuyện mà để ngắm sự người ta, có hơi biết mùi đời chi hương-phấn, lại càng nồng sắc nước chi nguyệt-hoa.

Mừng thủa gặp thời, tơ liễu chi chừng đôi tám, sợ khi quá lứa, quả mai chi rụng bảy ba.

Dẫu hèn dẫu sang, may có kẻ yêu cho phận gái ; ép dầu ép mỡ, xưa kia ai cấm chi duyên bà ? Xin mẹ bằng lòng cho con vững dạ ; muốn cho gái hiền lấy được rể khá, những mong là sửa túi nâng khăn, nào thấy có gieo cầu ném quả ; hẹn mười hẹn chín mấy mặt thấy đâu, ngày một ngày hai, những lòng rắp đã. Nhớ sông Hàn rong chơi hợp mặt, ngắm xem phận gái, vẻ-vang chi rồng đã có mây, tưởng bến Tần vui thú dăng tay, trông thấy chị en, sực nức chi lan nhường bén xạ.

Nghĩ ăn chẳng ngon, nghĩ nằm chẳng ngủ, đêm những ngậm-ngùi, chán lược biếng chải, chán gương biếng soi, ngày càng buồn bã ! Lòng bác mẹ mong giăng tròn hoa nở, nỗi u-tình biết tỏ với ai hay, tình chị em yêu áo xẻ cơm nhường, của vạn vật có nhẽ đâu người đỡ, ngao-ngán nỗi long đanh chi phản, trót buộc tay dám ngỏ người hay, sung-sướng thay đầy thóc chi bồ, biết no bụng nào nhường kẻ lỡ.

Vậy nên con muốn bằng chị bằng em, có đôi có lứa, nhẽ chịu đâu ở mả chi mèo lành, tính cũng muốn húc sào chi dê sữa. Chớ oẻ-hoẹ bà già chi lên mặt, những kén cá chọn canh, để dở-dang con trẻ chi ngang lòng, thôi lại già lừa đẻ ngựa ! Không trách kẻ nương dâu chi đứng, nghĩ như kẻ ấy lại thêm buồn, cũng thấy ai bụi ráy chi ngồi, có bận ai đâu mà lại ngứa ?

Mẹ vẫn nghe mười voi không bát nước xáo, chờ những lúc gối quỳ tay liễm, lâu ngày tính khổ chịu sao, con dại nghĩ trăm lợn cũng một lòng, e những khi lửa bén gần rơm, một giờ dễ hay giữ cửa. Con vẫn biết giai khôn trăm nết, gái dại bảy nghề, xuân-tâm chợt động, xuân-sự chớ hề, vẫn gối phượng chăn loan chi chờ đợi, nào tin ong sứ bướm chi đi về.

Đã hay rằng sớm mận tối đào, cớ sao kẻ dài mỏ chi rì rào, dẫu rằng có nụ cà hoa mướp, khéo những người nỏ miệng chi gớm ghê ! Thôi mẹ đừng cấm chợ ngăn sông, xá quản người đời chi mai mỉa, để con liệu nhổ sào qua bến, tha hồ miệng thế chi cười chê, hễ chê đừng lấy, khỏi mang già kén chi cười ; sao nên chẳng gặp, sao gặp chẳng nên, lại phải miệng đời chi nhảm.

Đã lắm lúc bực mình chi chê đẻ, vì đường kinh kỷ loay khoay, cũng đã nhiều phen sạn mặt chi đá trơ, không nhẽ quyền nghi chút tạm. Phỏng như lúc tơ tơ chi con gái, thoảng trông người cũng đã yêu, ngộ theo sau sòng sọc chi cái già, nhác thấy ai mà chẳng gớm ?

Thôi thì đẹp duyên thì lấy, có đâu đổi chác chi cỏ rau, hẳn là phải kiếp thì theo, xá quản tầm thường chi tấm cám. Vậy có thơ rằng :

Nhân duyên trời chửa định nơi nao,

Nông nổi con nay mẹ tính sao ?

Con muốn lấy chồng con lại sớm,

Kẻo người lấy hết trổng mông gào !

Mẹ già nghe nói, khuyên con ngọt ngào : “Hễ nhà có gái, lắm kẻ ra vào ; biết đâu là duyên ưa lá thắm, để mong cho phận đẹp má đào ; vội chi mà vội, bao giờ thì bao. Cũng mặc ai chỉ Tấn tơ Tần, cứ giữ lấy mình vàng lá ngọc, cho đáng kẻ chồng loan vợ phượng ; lọ là nên chào khách bán rao. Nào lo đâu có ế chi chồng ; giỗ muộn càng nhiều qảu chắc, cũng nên nghĩ đương xuân chi gái, ngọc lành hãy đợi giá cao. (Theo quyển Quốc văn tùng ký sách viết bằng chữ nôm của Bác cổ, số A B 383, quyển hạ, tờ 24 b – 27 a)

(còn nữa)

Ứng-hòe NGUYỄN-VĂN-TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

1) Trường Bác cổ có ba bài Mẹ ơi con muốn lấy chồng : một bài văn sách sao trong quyển Đại nam quốc âm ca khúc (bản viết của Bác cổ đề là của “Thượng thư Nguyễn-công-Trứ soạn” số a b 146 tờ 111 b – 113a) một bài kinh nghĩa của ông Lê quí-Đôn, sao trong quyển Quốc văn tùng ký (số sách a b 383, quyển hạ, tờ 16b018a) và một bài phú cũng sao trong Quốc văn tùng ký quyển hạ, tờ 24b-27a). Bào chép ở trên là bài phú, hiện chưa có ai diễn ra quốc ngữ, bài văn sách cũng vậy, chưa ai đem ra in, có lẽ tại hơi tục. Bài kinh nghĩa thì ông Nguyễn-văn-Vĩnh đã in phụ vào quyển Cung oán ngâm khúc ; tôi có đem ra so với bản nôm của Bác cổ chỉ thấy có khác có vào chữ như sau này: trang 28, ông Vĩnh chép là: “Con nghĩ rằng : Thoi đưa thấm thoắt, người ta như có lứa chi măng” ; bản chữ nôm của Bác cổ viết là: “Con tưởng rằng: Thoi đưa thấm thoắt, người ta như có lứa chi hoa”. Trang 30 ông Vĩnh chép là: “Mẹ chẳng xem, miền đông lân kẻ nọ chi nghênh thế, làng bắc lý người kia chỉ tống nữ” ; bản chữ nôm của Bác cổ chép là “vùng bắc lý” có lẽ đúng hơn vì chữ “lý” đã là “làng” nếu viết là “làng bắc lý” thì hơi trùng.

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn