Tiếp theo của phần VI

XVI: Con gái thích học trò, không ưa làm ruộng

(Bàii phú của Lê-quí-đôn)

Ngọc còn gợi giá, vàng chẳng lẫn thau, chốn cung cấm thực là nghiêm-mật, sự gió-giăng chi dám lan-can. Đội ơn bác mẹ sinh thành, bề yêu-dấu lại càng chải-chuốt, nghĩ sự vợ chồng duyên-kiếp, dạ ngổn-ngang nên phải trình-bàn. 

Tối nay hổ chút phận hèn, mừng sinh cửa cả, tiết xuân vừa  thuở giăng tròn, vườn cảnh đương thời hoa nở. Sách nhớ chữ “khuê – môn bất xuất”, đường nghĩa phương dạy bảo dám sai nhời; lễ ghi câu  “túc dạ vô vị” việc nữ-tắc sớm khuya đành để dạ. Sự-duyên này dám tỏ nước-non, nông-nỗi nọ biết đâu nhạn cá ?. Dộn-dã văn-nhân tài-tử, tin ong sứ bướm, chửa từng khi giả mận gieo đào, mơ-màng quốc-sắc thiên-hương, gối phượng chăn loan, còn đợi khách đưa thư ném quả.

Những ước vui miền Khổng. Mạnh, đẹp phận Chu, Trần, duyên kết kẻ gối Ôn màn Đổng, mỗi xe nên chỉ Tắn tơ Tần, Đứng anh-hùng lặp khách thuyền-quyên, mặc sức kẻ sôi kinh nấu sử, người thục-nữ sánh chàng quân-tử, cam lòng khi sửa áo nâng khăn. Há có phải tham bùi sẻ ngọt, phó mặc ai nấy mực cầm cân. Vả bấy nay quá nhỡn tiền-tài: họ Thạch nọ đã từng đấu phú, nào mấy kẻ trần trung vật-sắc, trang Trần kia có thể trường bần, tưởng thế-sự dám so hơn thiệt, tất thiên-duyên còn đợi chuyển vần.

Đường liễu duyên đưa, cung giăng khách quyến, ấy vì ai tin  nhạn dễ đưa, bỗng thấy kẻ nhà nông tìm đến. Người dắt mối tin còn dìn-dặt, lân-la vừa lạ lạ quen quen; kẻ đưa nhời tình tỏ

vân-vi, dan-dí khéo vui vui thẹn thẹn. Run-rủi chi phấn lại pha son, man-mát nhẽ thuyền chưa đỗ bến. Lễ vấn tính phong phong mở mở, mở lại phong chưa thấu rõ nguồn cơn; đường thông mối nợ nợ duyên duyên, duyên hay nợ bởi vì ai xui khiến. Cho nên nỗi hoa kia ủ mặt, liễu nọ phai mày. Con tạo-hóa trên người quay quắt, mối cương-thương trách kẻ thày lay. Rừng nho bể thánh có thiếu chi, mà nữ để hồng ngâm cho chuột vọc: bà Nguyệt ông Tơ sa lẫn mấy, hoài nỡ đem bột lọc để ngâu vầy. Tủi phận xui nên nông-nỗi ấy, vì ai làm ra duyên kiếp này ?.

Chốn tước-bình đã thấy mấy lần, dập-dìu nơi lan-thất lan-phòng, há có phải hồng nhan bạc phận, cầu ô thước kiểm chi một dải, cách trở thu hà-đông hà-bắc, tạo chẳng cho bạch diện về tay, đã đành phản mười hai bến nước, chẳng tham nơi năm bầy trâu cầy.

Nghĩ rằng trát phận khôn ưa, cho duyên thế vậy, thề non nguyền bể hãy ghi nhời, ăn bắc nằm nam chỉ học thói. Duyên tràng Trịnh có phen gặp-gỡ, đá vàng mỏng kết nghĩa thuc-vân, của họ Tô mặc khách ra vào, hương lửa dễ soi lòng tiểu-muội. Mặc mẹ cho định liệu dám sai thời, nọ chú bác tiếng tăm ngao ngán nỗi, kẻ xúi-giục tìm nơi chao-chuốt, song tôi nghĩ của đời người thế, giàu thấy đâu đình-truởng thuở màng vàng, người mỉa-mai những tửng nọ kia; song tôi nghĩ nghiên ruộng bút cầy, khó ai bằng Mặi-Thần khi gánh củi. Đã đành canh-cánh ở bên lòng, há có lẳng-lặng mà không nói ?.

Vậy phải niềm riêng dãi tỏ, lòng thực kể tường, sự đây đấy ngẫm xem nhường đuốc, việc phải chăng lấy đấy làm gương. Giàu phú-khuê chan lấm tay bùn, duyên chẳng đẹp dẽ ép dầu ép mỡ; khó hàn si tai hiền mắt thánh, phận đã ưa chẳng cân ngãi cân vàng. Chốn thản-bình một tiếng sấm vàng, cửa Mông-chính ngựa xẻ đùng-đình, trong cửa Vũ ba từng cá nhẩy nhà Lưu-Bình võng giá nghênh-ngang. Thế mới biết nông nhì mà sĩ nhất, gặp thời ra của có lại quan sang.

(Theo quyển Quốc-văn tùng-ký sách viết bằng chữ nôm của Trường Bắc-Cổ, số AB 383, quyển hạ, tờ 29a-31a).

XVII: Cung oán 

Hôm nao xuyến-lục khó chiều nguôi, 

Bụng có gươm dù cắt cửu hồi. 

Không biệt-ly mà chau khóm trúc, 

Chẳng tương-tư cũng đã đông người. 

Cánh hoa gầy-guộc ve lam ban, 

Khúc ngọc tan-tành vượn chớ sai. 

Ngẫm lúc này mà so thuở trước, 

Mới hay cửu hạn cực vĩ giời !

?

Giận thu chửa vợi, lại hờn xuân ! 

Một gánh sầu đeo nặng mấy can ? 

Mặt ủ-ê hoa, rầu thức ngọc, 

Lệ trôi-giát phấn, ở da ngân.

Cung đầu riêng kẻ hơi sương toát !, 

Lầu thắm dù ai vẻ nguyệt trần. 

Dở-dói nỗi mình thêm kéo quẹt. 

Nghìn phần tủi, lại tiếc muôn phần !

?

Câu phú Tương-Như chữ đoạn-trường,

Đọc thôi châu-lệ trã đôi hàng !

Hạc lay giọt tủi dây lê sắt, 

Loan chếch trôi ngừng bụi lắp gương. 

Thảm chất chẳng thành ra chán ngắt, 

Sầu tuôn không bể cũng mênh mang !

Thân này ví biết nhường này nhỉ, 

Xó-xỉnh điền-gia lại vẻ sang !

?

Buồng tiêu bao ná áng đại-dương ? 

Gang tấc xem bằng mấy dặm trường ?

Xuân tới u-ơ con yến trắng,

Đông về gầy guộc đóa hoa vàng. 

Đìu-hiu đêm hạ quyên kêu nguyệt, 

Bảng-lảng chiều thu nhan khóc sương. 

Phong cảnh chiều người vui tẻ thế ! 

Khéo là thêu-dệt mối sầu trường !

?

Trưởng loan trằn-trọc gánh sầu đeo, 

Dở-đói thêm buồn phận hẩm-hiu.

Cung quế chập-chờn nương bóng thỏ, 

Buồng tiêu thắc-mắc ngóng xe hươu. 

Lá thơ gieo đoạn ngâm còn oán, 

Dây nguyệt vương thôi gỡ được nào? 

Nỗi trọ đường kia rầu-rĩ lắm !

Trướng loan trằn-trọc gánh sầu đeo !

?

Cũng mang là một tiếng thuyền-|quyên, 

Kẻ trong nguyền, sao kẻ lỡ nguyền ? 

Không tới Vu mà mẽ dáng, 

Chẳng về cung Quảng bỗng phai duyên. 

Hàn-nhai bao nỡ hơi qua bén, 

Cùng cốc nọ nào bóng thái in. 

Ngàn nhẽ hoa giống vườn lãng nở, 

Khá riêng rừng bối cũng cho nên !

?

Chẳng thua chi chẳng kém em nào, 

Xinh nhỉ tình duyên bỗng ngán sao ! 

Tấp-tểnh nhìn gương, gương điểm bạc, 

Bâng-khuâng ngắm nguyệt, nguyệt! chênh cao ! 

Chớ khi Hồn bướm còn oai giấc, 

Thoắt thấy tin nhàn ngỡ sắp chiều ! 

Mượn chén giải sầu trè Lục-vũ, 

Nghĩ nguồn cơn lại xót như kêu !

?

Cũng mong mượn-mõ chút làm khuây. 

Càng mượn thôi càng oán hận đầy 

Cầm mảnh dây, ngang ngửa điệu. 

Cờ bí nước, vẩn-vơ tay. 

Miệng ngâm thơ vượn, tình kêu khổ,

Mắt nhắm riêng người, dáng khóc vay. 

Thuở trước trồng nhan tuy sốc nổi, 

Song chưa ai đến nỗi niềm này !

?

Chiều giời gió hẹp lại sương đơn, 

Hoa nguyệt nào đâu chẳng sẽ san?  

Gió giục lòng xuân cơn gió áp,

Hoa chiều mặt khách vẻ hoa tàn.

Tuyết sư thức bạc hồn mai lạnh. 

Nguyệt dã màu vàng giấc điệp tan.

Lòng giận lòng, thôi đừng nghĩ vẩn, 

Đã đành hiu hẩm phận hồng nhan !

(Trích ở quyển Quốc-âm thi ca tạp lục, bản viết bằng chữ nôm của trưởng Bác-cổ, số AB 296, tờ 7b – 10b).

Ứng hòe-NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)