Tiếp theo cảu phần VII

XVIII: Cung oán 

Ngắm xem phong-cảnh làm chiều xinh, 

Nào lúc nào không một thảm quanh ! 

Bóng chếch âm-thầm ban tối vắng, 

Đèn tàn bầu-bạn thuở đêm thanh. 

Dập-dìu ngửa mắt uyên làn cảnh, 

Láo sáo chêu ngươi liễu rủ cành, 

Xuân cớ chi mà riêng duồng-dẫy, 

Sáu cung đã mấy mặt khuynh thành

?

Hiu hắt hơi may lọt bức the, 

Bài sầu kẽ vách lối cầm ve. 

Giăng lồng cửa sổ trông càng thẹn, 

Lá nổi doanh Nhâm nhặt lại e. 

Thời dệt dây đào khuây giấc bướm, 

Ngại đưa cành trúc lấy lòng dê. 

Ơn trên ấy những đau nhiều bấy, 

Chuông trống bên tai luống vắng nghe.

?

Nồng phai thắm nhạt thế làm chỉ !

Hoa dẫu tươi chăng cùng một thì. 

Sa ấm đã đành duyên phận thế, 

Xôn-xao kia những vẻ vang gì ? 

Đắn đo đã mấy người vàng ngọc, 

Duồng dẫy thôi càng tiếng bấc chì ! 

Mượn cuộc phong lưu làm khuấy khuất,

Phiếm đàn chén rượu gợi sầu bị !

Trích ở Quốc-Âm thi-ca tạp-lục, sách viết bằng chữ Nôm của Trường Bác-Cổ, số AB 296, tờ 10b-11a) (1)

XIX: Đi tu 

Mặc duyên mặc phận cũng dầu ai, 

Biết vậy thương yêu chớ vật nài. 

Nguyền nọ trăm đường chưa một vẹn, 

Lòng này chín ước đã mười sai !

Quả mai đã vậy dù ba bảy,

Buồng quế thôi đừng tưởng một hai 

Ví gọi Màu nỉ nào pháp nhiễm,

Xin đưa thân gái đổi làm giai.

Thoắt nào đã dựa nước non nay, 

Bạc mệnh hồng nhan ngẫm ngán thay ! 

Tiếng kệ cầu kinh nghe đỡ tưởng, 

Mặt kim đường chỉ mượn làm khuây. 

Sóng trồn bể ái tuôn đòi lớp, 

Lửa nhơ (2) là phiên chất dỗi ngày. 

May kẻ bề ngoài cho biết nhỉ, 

Chẳng nơi quyền quý cũng là may. 

(Trích ở quốc-Âm thi-ca tạp-lục, tờ 11b – 126)

XX: Ghềnh con mèo 

Phong cảnh nhìn xem chỉn lạ nhiều, 

Bờ ghềnh có núi gọi con Mèo,

Tăm kình đáy nước đầu xanh ngắt, 

Trông thỏ cung giăng mặt mốc-meo. 

Chẳng ở nhà dân vui ấm-áp, 

Bỗng ngồi non qui nắng treo leo. 

Cáo thành hươu-xã đà không hết, 

Khét tiếng nhơn nhơn lọt ải Beo.

(Trích ở Quốc-âm thi-ca tạp-lục tờ 14a.)

XXI Ghềnh Nga 

Ngoài ngã tư, trong ngã ba, 

Ngang một lạch gọi Ghềnh Nga. 

Chênh chênh mấy dịp con cầu trúc. 

San-sát nghìn tầm cái trệ la. 

Ác xuống chợ chiều đen ngỡ mực,

Hồ về cây tối trắng nhường hoa. 

Phao tung cảnh mọn công khi ấy, 

Tám bức giang thiền một định già.

(Trích ở Quốc-Âm thi-ca tạp-lục, tờ 16 b).

XXII: Ngã ba Ngu 

So khắp lừng lừng cõi Ái-châu, 

Vui nào hơn nữa ngã ba Ngu ? 

Hai hòn hoa biểu rùa nhô cổ, 

Mấy lạch đào nguyên giải sắp ma. 

Buồm vải lưỡi gà treo chếch-chếch, 

Sào ghềnh mang bống dãi khu-khu. 

Có người hiếu sự công khi ấy,

Châm-chước mỗ bầu hứng mỗ câu.

(Trích ở Quốc-Âm thi-ca tạp-lục, tờ 17a).

XXIII: Tứ ẩn tương thoại 

Đệm rượu ngày nhàn họp bốn người, 

Đều vui sở thú rủ nhau chơi. 

Con trâu ở béo, gạo ngươi trắng. 

Bó cải người nhiều, cả tớ tươi, 

Chán thuở thit-bình, người mỉm tớ. 

Chứa lòng ưa-ái, tớ cùng ngươi. 

Cắp cầm con Tuyết tình-cờ tới, 

Bỏ nón lui chân thốc-thốc cười.

(Trích ở Quốc-âm thi-ca tạp-lục, tờ 15 a)

XXIV: Thợ cấy muốn lấy chủ nhà…

Vấn “ thợ cấy muốn lấy chủ nhà, học trò muốn mò con gái”,

kỳ cố hà dư ? Tôi bởi cô chẳng duyên thì nợ, cô bởi tôi chẳng vợ thì chồng, kỳ vi tương hước chi từ cố dã. Nãi kê chi ngan viết: “Ai về Đồng-tỉnh Huê Cầu (3) thương, để nhớ, để sầu cho ai” ? Diệc hà bi nhi phát dả ?

Thả phù, tham tài tham sắc, thượng lịch thượng thanh, nhân 

tình ai cũng thế, huống chỉ cô thợ cấy, anh học trò vậy ru ?

Tưởng khi góc ruộng đầu bờ, theo thợ cấy sớm trưa chi cúi cắm. Chị em ơi, tiếc phận hồng-nhan, ai là cầu ô chi bắc ? Chủ nhà mà phong-lưu phú-quí, khả sẵn-sàng tổ ở chi cưu; tức may ra làm mướn hóa làm bà, buông tay mạ sỏ chân hài, đặc bất hữu trong lòng chi ao-uớc.

Có lúc dưới đèn trên án, theo rừng cho ngày tháng chi dùi-mài, giời đất nhẽ giúp công hoàng quyền, ai là gà gáy chi khuyên, con gái mà yểu-điệu u-nhàn, khả sớm-sủa bói lành chi phượng; tức may ra gặp tiên, lại gặp bước rẽ đào-nguyên vào cửa động, đắc bất vi mở lối chi dò-la: ý sở muốn lấy muốn mò, chức thử có dã.

Hạt bất quan nam nữ chi cập thời hồ, giai lành gái tốt, gặp-gỡ vui chơi, nên chăng thì cũng duyên giời, chẳng nên cũng ướm mấy nhời xem sao ? May mà quân-tử xiết bao, tình riêng với khách hồng-đào nhởn-nhơ, kỳ vi tương hước chi từ cố dã.

Thấy chưng phương-ngôn rằng: “Ai về Đồng-tỉnh Huê Cầu (3) đề thường, để nhớ, để sầu cho ai ?” Ý rång nỏ nang chợ-búa, đủng-đỉnh sớm trưa: ấy Đồng-tỉnh Xuân-cầu chi con gái, chốn thị-xứ ghế mây dóng ngồi khéo lả-lơi. Khách lại có chào, thuyền tình ai bước chân vào, miếng giầu cô tốt, thuốc lào cô ngon, còn non, còn nước, còn dài, cô còn giầy thuốc, anh còn say-sưa. 

Bỗng không ngờ mây mưa đôi ngả, nay gió mai mưa, để điếu ngẩn-ngơ, túi đã ngán Xuân-cầu chi thuốc, bỏ bình nhơ-nhác, khay cũng không Đồng-tỉnh chi giầu. Thương về một nỗi xa nhau, nhớ giầu nhớ thuốc nên sầu tương-tư. Cô sao chểnh-mảng bấy giờ, để anh thờ-thẫn thẩn-thơ, mong mỏi dãi nguồn cơn chi ngán, thử ngại chi ngôn, cái hữu do thử nhi phát dā.  

(Theo quyền Thi-ca nam-âm sách viết bảng chữ nôm của Trường Bác-cổ, số AB 164, tờ 34a.-35a). (4)

XXV Côn-sơn ca (5) 

Nói Côn-sơn suốt trong nước chảy, ta nghe như đàn gẩy bên tại; đá Côn-sơn mưa sạch trần-ai, ta có sẵn chiếu ngồi vui thú. Trong muôn trượng dãy tùng reo múa, ta thường thường thức ngủ nằm khênh; ngoài nghìn mẫu trúc xanh man-mát, ta  thường thường ngẫm hát gần kề 

Hỏi ai sao chẳng đi về, nửa đời danh lợi mệt-mê trong vòng, lọ là cửa-định vận chung, cơm rau nước lã cũng xong tháng ngày. Ai chẳng thấy Đồng-Trác nọ vàng đầy kể hốc, 

Nguyên-Trí kia kể hộc hồ-tiêu ? 

Lại chẳng thấy Di, Tề (6) nằm queo núi Thú (7), thóc không ăn, đói rũ mà đành: hiền ngu hai lối rành rành, chẳng qua mình thích trí mình mình thôi. Trăm năm trong cõi người đời, ai là thoát khỏi bạn loài cỏ-cây, bi-hoan như cuộc bóng quay, truyện đời một giả một vay thôi mà ! Tình-cờ đâu đó cũng là, ai vinh ai phục lúc đà hết hơi, Sào, Do (8) như có đường-thời, bảo nghe trong núi có người ngâm thơ.

(Theo quyền Quốc-văn tùng-ký, sách viết bằng chữ nôm của Trường Bác-cổ, số A B 383, quyền hạ, tờ 888).

Ứng hòe NGUYỄN VĂN TỐ

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

1) Những bài trích ở quyền Quốc âm thi-ca tập-lục in ra quốc-ngữ lần này là lần đầu, làm thế nào cũng có chữ nhầm lẫn: độc giả có bản nôm nào khác với bản của Bác-cổ, xin cho biết để bổ chính lại cho thật đúng. Cả những bài chép ở dưới cũng vậy, chưa ai in ra quốc ngữ.

2) Có người chữa là “Lửa đốt lò phiền ..”.

3) Huê cầu: trong câu hát vẫn hát là Huê cầu, nhưng bản chữ nôm của trường bác cổ thì chép là xuân cầu; ngày nay là Xuân cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh.

4) Bài văn sách “Thợ cấy muốn lấy chủ nhà”, không rõ của ai.

5) Côn sơn ở Chí linh (Hải dương). Bản chữ Hán bài “Côn sơn ca” của ông Nguyễn Trãi (1380-1440; xem Tri-tân số 26, bài Những ông nghè triều Lê) in trong Hoàng Việt văn-tuyển, quyển một, tờ 20 b; Viân Dao diễn ra quốc âm, đúng như nguyên văn nhà nho duy có ba câu hơi lạc nghĩa: một là “nham trung hữu tùng, vạn cái thúy đồng đồng” (trong núi có cây thông, muôn lá xanh mơn mởn), dịch là “trong muôn trong dây tùng reo múa”; hai là “bán sinh trần thổ trường giao cốc” (nửa đời bụi đất nhựa cùm dài) dịch là  “nửa đời danh lợi mệt mê trong vòng”; ba là “nhất sinh nhất tạ hoàn tương tục, thưởng sơn hoa ốc diệc ngẫu nhiên” (một tươi một héo lại cùng nhau, lên núi nhà sáng cũng thế vầy), dịch là “truyện đời một giả một vay thôi mà”.

6) Bá di và Thúc Tề, con vua nước Cô-trúc, đời nhà Thương.

7) Thi dương, ở phía tây nam huyện Lũng tây (tỉnh Cam túc bên Tàu).

8) Sào phủ và Hứa đô, người đời thượng cổ vua nghiêu nhường ngôi, đều từ chối. Sào phủ ở núi, dùng cây làm tổ, ngủ ở trên, cho nên gọi là Sào phủ (sào là tổ chim) Hứa đô tên tự là Võ Trọng, cũng ở núi, không doanh lợi.

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn