Tiếp theo phần III

Thời kỳ Bắc thuộc đã qua. Lá cờ độc lập phấp phới bay trên sông Lư, núi Tản. Dưới trào Lê Ngọa Triều (2005-2009) sách vở nhà Nho dắt tay kinh tạng nhà Phật theo chân sứ bộ Minh Suởng cùng vào nước Nam (1). 

Lý lên cầm quyền (1010-1225) khua vang chuông, trống trên đàn văn học: Vua Thánh Tông dựng Văn miếu ở thành Thăng Long (1070). Vua Nhân Tông mở khoa thi minh-kinh bác học (1075), lấy Lê Văn Thịnh đỗ đầu (nước Nam có khoa thi bắt đầu từ đỏ) và lập trường Quốc tử giám (1076) đề đào tạo sĩ tử.

Trải Trần đến Hồ, thái-học-sinh là một khoa thi tiến sĩ để lựa chọn lấy người học giỏi, văn hay.

Rồi thì Lê, Mạc, Lê Trung Hưng cho đến Tây Sơn và trao Nguyễn, đường trước đã vạch, người sau cứ thể bước theo, trào-đại nào cũng chú trọng vào việc tôn sùng Hán học, khuyến khích khoa cử, gây thành luồng sóng “nho hóa” dàn dụa khắp cả dân gian. .

Ta nên biết rằng Bắc-kỳ là một xứ tối cổ, sống dưới ảnh hưởng của văn hóa Tàu đã lâu lắm rồi, Từ Lê Trung Hung về trước, các trào đại đều đóng đô ngoài Bắc này. Nó là nơi trung tâm điểm của việc học, nên phong khí sớm mở mang, Hán học sớm phát đạt hơn các nơi khác. Rồi từ Bắc kỳ, làn sóng Hán học cứ theo con đường phát triển của cuộc Nam tiến mà tràn dần vào Trung, Nam-kỳ.

Thứ đến Trung kỳ. – Từ xưa đến cuối Lê Trung Hưng,  Thanh, Nghệ, Tĩnh vẫn sống dưới bóng cờ quản trị của các trào đại ngoài Bắc. Cùng với các tỉnh ngoài Bắc, chung chịu chi phối dưới thế lực của văn hóa Tàu, nên Hán học trong ba tỉnh đó sớm khai thông hơn các tỉnh trung bộ và nam bộ Trung-kỳ.

Trên trang sử truyền bá Hán học ở vùng Thuận (Thuận Hóa) Quảng (Quảng Nam) ta phải ghi công chúa Nguyễn Hoàng (1558-1613), người tiên phong phát rừng, xẻ đá ở một giải Hoành Sơn đó !

Xưa kia, từ Quảng Bình đến Bình Thuận, hãy còn là đất  Chiêm Thành, Ngang đời Minh bên Tàu, nước Chiêm Thành | tuy đã có nhiều người thông chữ Hán, song thế lực chữ Hán chắc vẫn không mạnh bằng chữ Phạn (sanscrit), vì người  Chàm học chữ Phạn từ trước (2) và chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ từ lâu. Về sau, đồng hóa với Việt nam, người Chăm chắc phải theo văn hóa Việt Nam, lại học chữ Hán. Đó là cái lẽ tất nhiên, Vậy công tuyên| truyền Hán học ở những tỉnh trung bộ và miền nam Trung-kỳ này, các chúa Nguyễn là những người đã chiếm được kỷ lục.

Sau tới Nam-kỳ.- Noi theo con đường Nam tiến, Hán học đi sau đội quân thực dân của các chúa Nguyễn, do vào Nam kỳ. Song về việc truyền bá Hán học vào Nam này, còn có một luồng gió tình cờ từ ngoài thuận tiện thổi vào, giúp cho ngọn nước Thù. Từ ngày chóng dâng cao, nhân dịp tràn ra, phủ ngập khắp cả mảnh đất Lục tỉnh.

Ta có thể chia lịch trình này làm hai đường :

a) Đường do trào Nguyễn truyền vào, – Năm Ất Mùi, đời chúa Hiếu Minh thư 25 (1715), Nguyễn Phan Long, trấn thủ Trấn Biên Doanh, và Phạm Khánh Đức, Ký lục, đứng lên lập Khổng miếu ở phủ Phúc Long. Thế là từ đó dân Nam kỳ bắt đầu chịu phép “bắp-têm” của Nho-giáo.

Sau khi Nguyễn trào thống nhất Nam Bắc, vua Gia Long chú trọng về việc nho học, muốn cho đâu đâu cũng vang dậy những tiếng huyền ca, nên đặt chung cho ba kỳ; chương trình học, thể lệ thi cử.

Năm Minh Mạng thứ sáu (1825), dựng văn miếu ở huyện Bình Dương. Năm Tự Đức mười bảy (1864), Nguyễn Thông đốc học Vĩnh Long, đứng lập văn miếu ở tỉnh đó. Đáp theo tiếng gọi “sùng nho” của đời bấy giờ, ông Phan Thanh Giản là người Nam kỳ thử nhất đậu tiến sĩ. Ông lại là người Việt Nam thứ nhất biết rõ văn hóa Đông Phương không thắng nổi văn hóa Tây phương, nên đã hàng phục nó một cách tiêu cực. 

b) Đường do người Tàu trực tiếp truyền sang. – Lối thế kỷ thứ 17, sau khi nhà Minh đã đổ, bọn Mạc Cửu, Trần Thượng Xuyên, ôm chí khảng khái, không chịu thầu phục Mãn Thanh, bèo đem gia quyến sang ta, xin làm dân trào Nguyễn. Rồi Mạc Cửu xin với chúa Hiến Tông đứng lên mở mang mảnh đất Hà Tiên (1708), kéo được nhiều người Tàu đi sang trú ngụ buôn bán.

Tre già măng mọc,Mạc Thiên Tích (trước là Tứ) con Mạc Cửu, trở nên một ngôi sao sáng trên đàn văn bây giờ. Tích có tổ – chức cái Chiêu-anh-các, mục đích họp tập các bạn làng văn các nơi để cùng bàn văn, giảng sách. Bày cuộc: xướng họa, Tích tung cái đề “Hà Tiện thập vịnh” ra giữa làng thơ được nhiều người hưởng ứng. Hăm nhăm nhà văn Tàu là bọn Châu Phác, Trần Tự Hương và sau nhà văn Nam là bọn Trịnh Liên Sơn, Mạc Triều Đán đều có dự vào cuộc xướng họa này. Sau họ góp thành một tập cộng được 320 bài thơ. 

Do hai con đường nói trên, Hán học dần dần truyền vào Nam kỳ.

TIẾT BỐN 

Lai lịch chữ hán 

Hàng hơn 2.000 năm nay, người Nam học Hán tự, viết Hán văn, coi chữ Hán như một thứ văn tự của mình. Dẫu đến ngày nay, quốc ngữ đã bầu phổ cập khắp dân dã, vậy mà vẫn còn nhiều người kêu chữ nho là “chữ ta”. Thế đủ biết chữ Hán đã ăn sâu vào óc người Nam lắm rồi.

Vả, từ khi Âu hóa đến nay, thay cho chữ Hán, quốc văn đóng vai trau giồi giáo dục, truyền bá tư tưởng, mở một kỷ nguyên mới trên trang văn học sử Việt Nam. Nhưng, trong rừng sách, báo quốc văn, trừ tinh thần và hình thức mượn của văn Tây ra, Hán tự vẫn giữ một địa vị rất quan trọng: Biết bao những tiếng trừu tượng cũ và các danh từ mới bằng Hán văn, ta cứ mạnh bạo cho chúng ta ùa ạt nhập tịch vào làng quốc văn cả. Không nó, lấy đâu ta gây được nền quốc văn ngày càng thịnh đạt này? Không nó, lương lai quốc văn dám đâu chắc có lạc quan? 

Vậy nghiên cứu văn học Việt Nam, ta cũng cần nên đưa mắt ngó qua lai lịch chữ Hán;

Cội rễ chữ Hán? Nhiều nhà khảo cứu phương Tây cho nó là ra từ nước Ai Cập (Egype) và nước Ba Tỉ Luân (Babylone). Lại có lắm nhà sử học quyết rằng gốc tích thổ ngữ Tàu ra từ dân Sumérieds.

Song, trái lại với những thuyết đó, người Trung hoa lên tiếng: chữ Tàu là sự người Tàu đặt ra, chứ quyết không phải học mót một dân tộc nào. Họ vịn cớ rằng chữ Tàu là một thứ chữ đặc biệt khác đời, không cùng gốc, chung nguồn với một thứ văn tự của dân tộc nào trên thế giới, vì chữ Hán, gốc ở lối kết thẳng của đời thượng cổ, chú trọng về tượng hình (idéograpbie).

Đời xưa vua Phục Hi (chừng vào khoảng năm 2000 trước J. C.), phân cái hà đồ của vua Tụy Nhân, đặt ra bát quái. Về sau người ta chuyên dùng bát quái vào việc bốc phệ, thuộc riêng về thứ văn tự tiên tri. 

Vào khoảng thế kỷ XXI trước J. C., vua Hoàng Đế sai tả sứ Thương Hiệt và hữu sứ Thư Tụng đặt ra lối chữ và cách viết. Từ đó, triều đình và dân chúng mới có thư khế để ứng phó với mọi việc cần dùng, chứ không phải theo lối kết thắng để đánh dấu những điều muốn ghi nhớ như ngày xưa nữa.

HOA BẰNG

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

(1) Lê Ngọa Triều sai Minh Sưởng và Hoàng Thành Nhã sang Tống cầu xin Cửu kinh (Nho) và Đại tạng kinh văn (Phật). Người Tống cho cả.

(2) Hồi thế kỷ thứ 9, người ta đã thấy những hòn đá có khắc chữ Phạn của người Chiêm Thành. 

(3) 1) Kim dự lan đào, 2) Bình sơn điệp thủy, 3) Tiêu tự thần chung, 4) Giang thanh đa cổ, 5) Thạch động thôn bản, 6) Châu nham lạc lộ, 7) Đồng hồ ấn nguyệt, 8) Nam phố trừng ba, 9) Lộc tự thôn cư, 10) Lư khê ngư bạc.

 

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn