Tiếp theo của phần IV

Có thể ví chữ Hán như  một cây: gieo giống từ đời Tụy Nhân, mọc mầm ở đời Phục Hi, lớn lên dưới trào Hoàng Đế. 

Lối chữ của Thượng Hiệt đặt ra đó gọi là cổ văn (gra-phies antiques); người ta còn thấy được độ 1.098 chữ khắc ở những cái đồ đồng và bia đá của ba đời Hạ, Thương, Chu.

Lối năm 800 trước J, C. Sử lựu đặt ra lối đại triện. Người ta kêu là lối Lựu văn (lối chữ của ông Lựu), hoặc lối chữ khoa đẩu (con nòng-nọc, tế-Cards). Hồi thế-kỷ II trước Tây lịch, người Tàu tìm thấy trong tường nhà Khổng Phu Tử có chứa những sách viết theo lối chữ khoa đẩu đó. Lý-Tư (người đời Chiến Quốc) làm tướng nhà Trần, đặt ra lối tiểu triện, nhằm năm 213 trước J. C. Trong bản Tam Hương của Lý Tư truyền lại có tới 3 300 chữ. Nhà Tần có tất cả đến tám lối chữ, gọi là “bát thề” : 1, đại triện, 2. tiểu tiện, 3. khắc phù, 4. trùng thư, 5. mô ấn, 6. thự thư, 7, thủ thư. 8. lệ thư.

Về sau, Trình Mác đặt ra lối chữ lệ, Thái Ung, người đời Tam Quốc, nghĩ đặt thứ chữ bát phận. Chung Do và Vương

Hí Chi lại có những lỗi chân phương, thảo và đá tháu. Ta cũng không nên quên Hứa – Thân, người đời Hán, có công sắp đặt thứ lớp và cắt nghĩa những chữ cổ văn, triện, lệ, làm thành bộ sách “Thuyết văn giải tự”,

Trong vòng hơn năm nghìn năm nay, chữ Tàu thay đổi nhiều lần, nhưng cội gốc nó vẫn cứ đứng vững. Nay sánh những lối chữ đời sau với lối chữ cổ của Thương Hiệt, ta thấy mỗi chữ hãy còn dấu vết cũ của nó.

Chữ Hán mau tấn tới lắm:  Lối năm 800 trước J. C. mới có 3.300 chữ; đến đầu Tây lịch đã được đến 7.380; vào khoảng thế kỷ II, tăng lên tới một vạn. Qua năm 1716, bộ Tự điển Khang Hi ra đời, người ta tính được đến 47 000 chữ. Từ khi mở cửa giao thông với Âu Mỹ, người Tàu lại tự đặt hoặc thâu thái của Nhật được thêm nhiều tiếng mới nữa. Thế thì chữ Hán bây giờ được tới năm, sáu vạn tiếng rồi. (1)

Khi chữ Hát nhận cảng vào Việt Nam, nó bị đọc theo lối ta, thành ra thứ tiếng Hán Việt (sir O-annamite) như ta đương dùng đó. Theo ông Henri Mas-pero, thì tiếng Nam mượn dùng chữ Hán có đến một nửa. Với nó, tiếng ta đã có cái liên lạc mật thiết như vậy, thì ta há lại không nên biết rõ lai lịch. Hán tự như trên đã nói:

HOA BẰNG

(Theo TRI TÂN TẠP CHÍ 1941)

1) Sách, báo tham khảo: “ Trung Quốc văn học khái luận ” của Bức-Hối (Thanh niên tiến bộ, số 53, Mai 1922); “Les caractères chipois” của Misslon ở Điến huyên (xuất bản tại Thượng Hải); “Hứa thận thuyết văn giải tư tự” Quốc học văn tuyển của Tiền Cơ Bác, Thương vụ ẩn thư quán, Thượng Hải.

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn