Phần 4: Xếp chỗ trong Tòa Án bằng những người phe mình  — và vụ lấy đất cho Liên Bang

Phần đầu tiên, thứ haithứ ba trong loạt bài này giải thích rằng Hiến Pháp đã tạo ra một chính phủ liên bang nhỏ và đơn giản. Các bài đó thảo luận về cách Thỏa thuận mới (New Deal) của Tổng thống Franklin D. Roosevelt (FDR) tiến đến các giới hạn của Hiến Pháp trong những năm 1930, cách Tối cao Pháp viện ban đầu đã cố gắng cân bằng Thỏa thuận mới với Hiến Pháp và cách tòa án cuối cùng ngừng áp dụng các giới hạn hiến pháp đối với quyền chi tiêu của Quốc hội.

Phần thứ tư này liên quan đến cách ông Roosevelt bắt đầu thu xếp các nhân sự của tòa án để bảo đảm đa số là người ủng hộ mình bởi các chính trị gia ủng hộ Thỏa thuận mới và cách các thẩm phán phá hủy các giới hạn của Hiến Pháp về quyền sở hữu đất liên bang.

1937 đến 1938: FDR bắt đầu ‘Đóng gói Tòa án’

Ông Roosevelt đã thất bại trong nỗ lực nổi tiếng của mình để “đóng gói tòa án” (pack the court) bằng cách mở rộng quy mô của nó, một phần vì Chánh án Charles Evans Hughes đã đi trước ông ta về chính trị. Tuy nhiên, FDR đã có thể đạt được mục tiêu cuối cùng của mình bằng cách đề cử người thay thế các thẩm phán nghỉ hưu.

Ông ấy không đề cử các luật gia dày dạn kinh nghiệm. Trên thực tế, ngoại trừ một ngoại lệ, không ai trong số những người được đề cử của ông đã từng làm thẩm phán toàn thời gian. Thay vào đó, ông chọn các nhà hoạt động chính trị ủng hộ Thỏa thuận mới — bao gồm một số cũng có tài năng — sẵn sàng hy sinh Hiến Pháp vì lợi ích của  nghị trình tự do.

Việc ông Willis Van Devanter nghỉ hưu vào mùa xuân năm 1937 đã tạo ra cơ hội bổ nhiệm đầu tiên của tổng thống. Ông ấy đã chọn lúc đó Thượng nghị sĩ Hugo Black (Dân chủ-Alabama), có lẽ là phần thưởng cho sự ủng hộ của ông Black đối với Thỏa thuận mới. Việc bổ nhiệm chắc chắn không dựa trên thành tích: Kinh nghiệm tư pháp duy nhất của ông Black là hai năm làm thẩm phán tòa án thành phố bán thời gian.

Ông Black vẫn còn ngồi trên ghế thẩm phán khi tôi còn học trường luật. Các giảng viên theo trường phái tự do đã miêu tả ông như một người đàn ông đứng tuổi, dễ mến, khô khan với lý thuyết riêng về tự do ngôn luận của Tu chính án thứ nhất. Họ không thảo luận về những năm đầu của ông Black trên ghế thẩm phán, khi ông tự do đưa ra lập luận tại sao Quốc hội và chính phủ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn.

Một minh họa tốt là ý kiến đồng tình của ông Black trong trường hợp năm 1939 trong vụ Coleman kiện Miller. Theo ý kiến trong vụ đó, ông Black tuyên bố — không quan tâm đến cả lịch sử và văn bản hiến pháp — rằng Quốc hội có “quyền lực độc quyền” đối với toàn bộ thủ tục tu chính hiến pháp. Theo giả thuyết của ông Black, Quốc hội có thể làm bất cứ điều gì họ muốn với thủ tục này và các tòa án không có cách nào phản ứng.

Rõ ràng, nếu quan niệm này thắng thế, Quốc hội sẽ trở thành toàn năng, thay đổi Hiến Pháp gần như theo ý muốn. Ông Black thực sự đã thuyết phục ba đồng nghiệp của mình ký vào ý kiến phi lý này.

May mắn thay, ông Hughes có ý thức tốt hơn. Quyết định của ông đối với tòa án cho thấy một hướng đi ôn hòa hơn nhiều. Trong những năm sau đó, ông Hughes đã được minh oan, khi các thẩm phán ở tất cả các cấp đều chấp nhận một cách hợp lý và đồng thuận quan điểm của ông ta và bác bỏ quan điểm của ông Black.

Đầu năm 1938, FDR đề cử tổng luật sư của mình, ông Stanley Reed, thay thế ông George Sutherland đã nghỉ hưu. Giống như ông Black, ông Reed đã chứng tỏ là một thành viên đáng tin cậy của trường phái tư tưởng hiến pháp “Chính phủ liên bang là toàn năng”.

Các thành viên của Tối cao Pháp viện bao gồm Chánh án Charles Evans Hughes (giữa, hàng trước), người đã chống lại nỗ lực của Tổng thống Franklin D. Roosevelt để xóa bỏ quyền phủ quyết của họ bằng cách bổ sung các thành viên trẻ hơn đồng cảm hơn với luật Thỏa thuận mới tự do của ông ta tại tòa án. (Hình ảnh MPI/Getty)

1938: Tòa án hủy bỏ các lệnh cấm sở hữu tài sản đối với liên bang

Việc bổ nhiệm ông Reed của ông Roosevelt đã được đền đáp gần như ngay lập tức, vì ông Reed đã viết một ý kiến yêu cầu tòa án loại bỏ các hạn chế của Hiến Pháp đối với quyền sở hữu đất đai của liên bang.

Quyền lực đối với đất đai là quyền lực đối với con người. Khi chính phủ thu hồi hoặc giữ lại đất, các phương tiện truyền thông tự do nói rằng chính phủ đang “bảo tồn” hoặc “bảo vệ” nó. Nhưng đó là xảo ngôn. Quyền sở hữu của chính phủ thường có nghĩa là quyền lực của các quan chức lớn lên hơn và quyền tự do của người dân ít đi.

Công ước Hiến Pháp năm 1787 đã suy xét việc có cho phép chính phủ liên bang nắm giữ vĩnh viễn những vùng bất động sản rộng lớn, nhưng đã bác bỏ ý kiến này. Hầu hết các Nhà Sáng Lập ra Hiến Pháp đều hiểu rằng để hạn chế chính phủ liên bang cần phải hạn chế quyền sở hữu đất đối với chính phủ liên bang.

Điều khoản tài sản của Hiến Pháp (Điều IV, Mục 3, Khoản 2) điều chỉnh quyền sở hữu đất đai của liên bang trong ranh giới tiểu bang. Nó trao cho Quốc hội thẩm quyền về việc không đủ điều kiện để bán đất, và không có quyền lực hay tư cách để mua đất. Điều khoản trong Hiến Pháp (Điều I, Mục 8, Khoản 17) quy định quyền có được quyền tài phán của liên bang đối với lãnh thổ trong ranh giới tiểu bang.

Văn bản của tài liệu, cùng với lịch sử của nó, cho thấy rằng chính phủ liên bang có thể có được quyền sở hữu hoặc quyền tài phán đối với diện tích dành riêng cho một hoặc nhiều mục đích được liệt kê cụ thể. Nhưng Hiến Pháp không cho phép mua các khu đất chỉ vì chính phủ nghĩ rằng sẽ rất tốt nếu mua được. Tài sản có được vượt quá nhu cầu của hiến pháp (chẳng hạn như tài sản có được theo điều ước quốc tế) phải được bán đi.

Do đó, điều khoản đặc khu chỉ nói về một quận thủ đô và “những công trình cần thiết”. Như Hiến Pháp sử dụng từ này, “Công trình” có nghĩa là nơi sửa chữa xây dựng dưới mọi hình thức, không chỉ các cấu trúc bao quanh. Tuy nhiên, “Công trình” không bao gồm các vùng lãnh thổ rộng lớn. Trước năm 1938, các vụ kiện của Tối cao Pháp viện về khu vực của liên bang liên quan đến các khu vực có quy mô hạn chế dành riêng cho các mục đích liệt kê. Ví dụ bao gồm các cơ sở điều phối giao thông (được bao gồm trong những quyền lực thương mại của Quốc hội) và các cơ sở quân sự. Ngoại trừ vùng được gọi là Washington được Hiến Pháp cho phép riêng một cách rõ ràng, các vùng khác tương đối nhỏ.

Trải rộng 748,000 mẫu Anh, Công viên Quốc gia Yosemite không phải là một “Kiến trúc cần thiết”. Nó không phục vụ cho mục đích nào được đề cập trong Hiến Pháp. Đúng hơn, đó là một khu bảo tồn môi trường và giải trí quý giá và cần được bảo vệ và quản trị bởi một tổ chức được ủy thác — hoặc có thể bởi tiểu bang California — chứ không phải bởi chính phủ liên bang bị chi phối chính trị ở mức cao.

Tuy nhiên, trong vụ Collins kiện Yosemite Park & Curry Co., Tối cao Pháp viện đã phán quyết rằng việc nhượng lại Yosemite của California cho chính phủ liên bang là hợp lệ theo điều khoản luật về đặc khu. Chỉ có thẩm phán James McReynolds không đồng ý. Kể từ phán quyết đó, tòa án đã cho phép liên bang sở hữu hoặc kiểm soát đất gần như không giới hạn.

Thiệt hại thực tế từ Quyết định của Tòa án

Những độc giả không có kinh nghiệm về miền Tây nước Mỹ có thể không đánh giá được mức độ tai hại của quyết định Collins. Điều này đã phê chuẩn quyền lực của các quan chức liên bang và các chính trị gia đối với 28% bất động sản của Mỹ. Bất động sản này nằm ở phương Tây không cân xứng: Liên bang sở hữu hơn 80% Nevada, hơn 60% Alaska, Idaho và Utah, và hơn một nửa Oregon.

Phần lớn những vùng đất này không có giá trị đặc biệt và không có lý do gì để chính phủ liên bang sở hữu nó — ngoài quyền lực chính trị. Hầu hết mọi người đều đồng ý rằng chất lượng quản trị của liên bang không cao.

Quyền sở hữu đất đai của liên bang cũng tạo điều kiện cho bộ máy quan liêu và các nhóm lợi ích đặc biệt phát triển mạnh nhờ sự kiểm soát của liên bang để thao túng cử tri và quan chức trong các bang ở miền Tây, do đó cản trở quyền tự quản của địa phương và bóp méo nghiêm trọng toàn bộ cán cân hiến pháp.

Quan điểm trong bài viết này là ​​của tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của The Epoch Times.

Ông Robert G. Natelson là cựu giáo sư luật hiến pháp và là nhà sử học hiến pháp. Ông là chuyên gia cao cấp về Luật Hiến Pháp tại Viện Độc lập ở Denver. Ông là tác giả của “Bản Hiến Pháp Gốc: Những Gì Hiến Pháp Thực Sự Nói Và Hàm Nghĩa” (xuất bản lần thứ 3, 2015).

Vui lòng đón xem Phần 5 “Killing Economic Freedom” trong loạt bài “Tối Cao Pháp Viện Viết Lại Hiến Pháp Như Thế Nào”.

Minh Khanh biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc từ The Epoch Times

Xem thêm:

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn