Trong kỳ trước đề cập đến việc Phật Di Lặc ra tay thu phục yêu quái Hoàng Mi, giải được ma nạn, có thể mọi người đều nghĩ rằng thầy trò Đường Tăng đã thoát khỏi ma chướng của Tiểu Tây Thiên. Tuy nhiên, đến Hồi thứ 67 mới phát hiện thầy trò Đường Tăng vẫn còn ở địa giới Tiểu Tây Thiên. Từ Tiểu Tây Thiên đến Đại Tây Thiên, để thoát khỏi Phật giả đi bái Phật thật, cần phải đi qua một con đường nhỏ vô cùng ô uế.

Con đường nhỏ này gọi là hẻm Hi Thị Đồng, ở dưới núi “Thất tuyệt”, đường kính núi rộng đến tám trăm dặm, khắp núi mọc toàn cây hồng. Mỗi năm trái hồng chín rụng xuống ngập cả một hẻm núi, lại bị gió mưa sương tuyết, khí nóng mùa hè làm cho trái thối rữa ra, con đường này vì vậy mà trở nên hôi thối, dơ bẩn, ô uế. Con đường đó so với nhà vệ sinh còn hôi thối hơn, do vậy trăm ngàn năm qua không ai có thể đi qua. Vậy làm sao mà thầy trò Đường Tăng có thể đi qua được đây?

Lại nói chuyện khi thoát khỏi Tiểu Tây Thiên, thầy trò Đường Tăng mừng rỡ tiếp tục lên đường, đúng lúc gặp tiết xuân ấm áp, cây cối nảy lộc đơm hoa. Khi đi đến chân núi, trời cũng sắp tối, cũng là lúc muốn tìm nơi tá túc, Ngộ Không bỗng nhìn thấy một xóm núi gần trước mặt, bèn chỉ tay về phía trước, nói: “Tốt lắm, có chỗ nghỉ rồi.”

Đường Tăng mừng rỡ thúc ngựa, xa xa là một xóm nhỏ bên lùm cây, đến cổng xóm thì xuống ngựa. Thấy cửa đóng kín, Đường Tăng bèn gõ cửa, nhưng có thể trong lòng sốt ruột muốn tìm chỗ nghỉ ngơi nên tiếng gõ cửa hơi lớn, một ông lão ra mở cửa và nói: “Người nào gõ cửa ầm ĩ lên thế.”

Cảm ngộ Tây Du Ký (P.15): Hẻm Hi Thị ngàn năm nay đã sạch
Bức “Huyền Trang tây hành đồ”tại Bảo tàng Quốc gia Tokyo. (Ảnh: Tài sản công)

Đường Tăng chắp tay trước ngực, cúi mình chào thưa: “Bần Tăng từ Đông thổ Đại Đường sang Tây Thiên thỉnh Kinh.” Ông lão nghe đến hai từ “thỉnh Kinh” liền nói cho biết: “Nơi này là Tiểu Tây Thiên, đi Đại Tây Thiên lấy Kinh, không đi nổi đâu, không chỉ đường xá xa xôi rất nhiều khổ sở, mà ngay cả vùng này cũng vất vả khó đi lắm.”

Sau đó ông lão nói về lai lịch của Hi Thị Đồng, bởi vì con đường này thật sự quá hôi thối, cho nên dân bản xứ mới gọi là Hi Thị Đồng (nghĩa là giống như phân nhão).

Nghĩ cũng thật lạ, rõ ràng cây hồng có “thất tuyệt” – tức bảy cái tuyệt: “Một là tăng tuổi thọ, hai là nhiều bóng râm, ba là không có tổ chim, bốn là không có sâu bọ, năm là lá đọng sương tuyệt đẹp, sáu là trái ngon, và bảy là cành lá tươi tốt.” Vậy vì sao lại bị gọi là Hi Thị Đồng, cái tên đã vùi lấp đi danh tiếng của nó?

Vậy ẩn ý ở đây là gì? Phải chăng là để so sánh với người tu hành vẫn còn chấp vào danh vọng khoe khoang, khẩu tài, văn tài? Dưới con mắt của Thần Phật thì những chấp trước đó xú uế giống như nhà vệ sinh vậy, mùi hôi thối bốc lên tận trời xanh.

Cảm ngộ Tây Du Ký (P.15): Hẻm Hi Thị ngàn năm nay đã sạch
Trái hồng. (Ảnh: Boris Oblak/Wikimedia Commons)

Hơn nữa con đường này đã bế tắc cả ngàn năm, không ai có thể đi qua được. Điều này ẩn ý rằng, trong hàng ngàn năm có bao nhiêu người bái Phật giả thành Phật thật, nhưng cũng không tự biết.

Ông lão đã tiếp đãi thầy trò Đường Tăng rất niềm nở. Qua cuộc trò chuyện thầy trò Đường Tăng mới biết rằng nơi đây có tên gọi là Đà La Trang, quanh năm luôn có người trong thôn trang bị yêu quái giết hại .

Ngộ Không hỏi: “Có yêu quái, tại sao không mời người đi hàng yêu?”. Thực ra dân trong thôn cũng có mời Hòa thượng và Đạo sĩ nhưng đều bị yêu quái giết sạch.

Theo nội dung của kỳ trước, có thể hiểu được ngụ ý của Tiểu Tây Thiên về việc bái Phật giả, Thần giả. Chỗ này trong tiểu thuyết có ẩn ý rằng, người tu hành nếu không ra khỏi địa giới Tiểu Tây Thiên, bất kể là tu như thế nào, cũng đều không có năng lực thanh trừ yêu ma, hoặc nói một cách xác thực là không có năng lực thanh trừ ma tính của bản thân mình.

Cảm ngộ Tây Du Ký (P.15): Hẻm Hi Thị ngàn năm nay đã sạch
Vì để tạo phúc cho chúng sinh, Ngộ Không quyết định hàng yêu. Tranh minh họa “Tây Du Ký” – Bổng đả Bạch cốt tinh. (Ảnh: Tài sản công)

Vì để tạo phúc cho chúng sinh, Ngộ Không quyết định hàng yêu. Ông lão hỏi Ngô Không: “Hàng yêu cần tạ lễ bao nhiêu?” Ngộ Không nói: “Hà tất phải nói đến tạ lễ? Tục ngữ nói: ‘Vàng làm chói mắt, bạc làm ngu ngốc, tiền bốc mùi tanh’. Chúng tôi là Hòa thượng làm việc tích đức, quyết không đòi tiền.”

Người tu hành chân chính thì không có cái tâm tham tiền tài, Ngộ Không đã nói ra nhận thức trong cảnh giới của mình. Đương nhiên người tu hành có “tài phú” của riêng mình. Ngộ Không nói: “Tôi là người xuất gia, chỉ cần một chén trà, một bữa cơm là được rồi.”

Lời này có hàm ý rằng, trong mắt của người tu hành, “tài phú” quan trọng nhất là kết được nhiều thiện duyên, độ được nhiều chúng sinh. Từ trước tới nay thế giới Thần Phật đều là vàng son lộng lẫy, trong đó có vô lượng vô số chúng sinh.

Trong lúc Ngộ Không đang nói đến bản sự hàng yêu trừ quái của mình, thì nghe thấy tiếng gió thổi vù vù, dân trong thôn biết là yêu quái đã tới, sợ tới mức run rẩy: “Hòa thượng này thật là xui cái miệng, nói đến yêu tinh thì yêu tinh đến rồi.”

Vừa nghe nói yêu tinh tới, Bát Giới sợ hãi muốn trốn vào nhà, Sa Tăng cũng muốn vào theo, Ngộ Không hai tay kéo hai huynh đệ, bảo họ đứng lại. Đúng vậy, người xuất gia tu hành làm lợi cho người khác, sao có thể vào thời khắc nguy nan chỉ lo sống chết cho bản thân, không lo hàng yêu trừ ma bảo vệ sinh linh?

Nhìn thấy yêu quái, Ngộ không phản ứng rất nhanh, lập tức rút gậy Như Ý tung nguời vèo một cái lên không trung. Sau một hồi giao chiến hỗn loạn, Ngộ Không hỏi yêu quái: “Ngươi là yêu quái phương nào?” Nhưng yêu quái kia giống như câm chẳng thèm nói năng, chỉ múa tít cây giáo. Trên không trung, Ngộ Không và yêu quái qua lại lên xuống giao chiến dữ dội, đấu đến canh ba, vẫn không phân thắng bại.

Bát Giới và Sa Tăng đứng ở trong sân vườn của Lý gia quan sát trận thế bên trên, trông thấy rất rõ ràng yêu quái chỉ múa giáo chống đỡ chứ không đánh trả một đòn nào. Bát Giới bèn nhảy vút lên mây hợp sức cùng Ngộ Không đánh một phen, bỗng phát hiện ra một vấn đề: yêu quái này sử dụng thương pháp có chút quái dị, Bát Giới còn đặt ra một cái tên là “Nhuyễn bính thương” (nghĩa là Giáo cán mềm). Ngộ Không giỏi sử dụng Côn, dùng gậy Như Ý xuất quỷ nhập thần, cũng chưa từng nghe qua đến “Nhuyễn bính thương”. Tuy nhiên Đại Thánh Trời sinh cơ rất linh mẫn, những lời Bát Giới nói lập tức nhắc Ngộ Không về một điểm khác, con yêu quái kia không nói chuyện, chắc hẳn tu chưa được hình người, âm khí rất nặng, trời vừa sáng, dương khí tăng lên, yêu quái nhất định sẽ bỏ chạy. Bát Giới nói: “Đúng, Đúng”. Huynh đệ hai người phối hợp với nhau rất ăn ý.

Quả nhiên khi trời vừa sáng, yêu quái không dám tham chiến, quay đầu bỏ chạy. Ngộ Không và Bát Giới nhất tề đuổi theo, bỗng một mùi hôi thối xông lên nồng nặc không chịu được, đó chính là hẻm Hi Thị ở núi Thất Tuyệt. Lúc này phát hiện ra yêu quái chính là con Mãng xà vảy đỏ. Nhìn từ bên ngoài con mãng xà này có hàm răng như gươm thép, móng vuốt như móng sắt, sừng trên đầu giống như hàng ngàn viên mã não, trên thân có vảy đỏ, giống như hàng ngàn lớp son phấn, cuộn trên mặt đất như chăn bông gấm, bay lên giống như cầu vồng. Xem ra bề ngoài của nó, trong mắt của người thế tục, tất cả đều là “bảo bối”. Nó mang trên người toàn là “bảo bối” như vậy nhưng lại ở một nơi hôi thối như nhà vệ sinh vậy.

Bát Giới thấy con Mãng xà chui vào trong động, nhìn thấy cái đuôi vẫn còn ở ngoài động, liền bỏ Đinh Ba ra tóm lấy cái đuôi rồi dùng toàn lực kéo ra ngoài. Ngộ Không thấy yêu quái này thân thể to dài nhưng lỗ hang bé nhỏ, cử động khó khăn, chắc chắn không thể quay mình được, chỉ có thể chạy thẳng về phía trước, vì vậy để Bát Giơi chặn cửa sau, Ngộ Không ở cửa trước bên ngoài đánh vào, hai huynh đệ phối hợp với nhau chế phục yêu quái.

Chỗ này miêu tả ngụ ý rằng, người tu hành giữ vững tâm mình không bị bên ngoài lôi kéo, thì dễ dàng thanh trừ được ma tính, ma tính cũng khó có thể quay đầu lại. Quả nhiên, hai huynh đệ đã chung sức tiêu diệt được Mãng xà, giải nguy cho Đà La Trang. Mọi người ai cũng vui mừng, già trẻ lớn bé trong làng đều đến quỳ lạy, hết mực tạ ơn.

Thịnh tình của dân trong thôn trang không thể chối từ, thầy trò phải mất nhiều ngày mới có thể cáo biệt lên đường. Ngày khởi hành, vài trăm người đưa tiễn thầy trò qua đường Hi Thị Đồng dưới núi Thất Tuyệt, một mùi hôi tanh xộc vào mũi. Đúng vậy, một con đường dơ bẩn bị tắc hơn nghìn năm, nó có thể không hôi thối được không? Muốn dọn sạch chỗ này lại cần sự nhẫn nại lớn bao nhiêu mới có thể dọn sạch.

Cảm ngộ Tây Du Ký (P.15): Hẻm Hi Thị ngàn năm nay đã sạch
Trư Bát Giới vì mọi người vui vẻ phá núi, một lần nữa mở ra con đường thông đến Tây Thiên. Lúc này biểu hiện của Bát Giới thật sự rất xuất sắc.(Ảnh: Tài sản công)

Ngộ Không nghĩ ra một kế, để cho Bát Giới biến thành một con heo lớn, ủi cho thành một con đường, để cho thầy trò Đường Tăng có thể đi qua. Công việc bẩn như vậy, mệt như vậy, nhưng Bát Giới vẫn vui vẻ làm.

Dân trong thôn mang tới lương khô, trái cây, bánh nướng, bánh bao không nhân để cho Bát Giới ăn no lấy sức. Bát giới rất vui vẻ, hứng khởi vì mọi người mà phá núi, mở ra con đường thông tới Tây Thiên. Biểu hiện của Bát Giới lúc này thật xuất sắc.

Phần cuối của câu chuyện ,Tác giả Ngô thừa Ân đã có lời khen ngợi: “Ngàn năm Hồng nhão nay đã sạch, Thất Tuyệt ngõ nhỏ nay đã mở, Lục dục bụi trần đều đoạn dứt, bình an bước tới bái Đài sen.”


Hoàng Phủ Dung
BTV Epoch Times Hoa Ngữ

Vương Du Duyệt biên tập
Tâm Thanh biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc từ Epoch Times Hoa ngữ

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn