TÓM LƯỢC

  • Florida là tiểu bang đầu tiên khuyến cáo không nên chích vaccine mRNA COVID cho trẻ em và nam giới từ 39 tuổi trở xuống, nhưng về một số vấn đề, tiểu bang này đã đồng ý với Vương quốc Anh, Thụy Điển, và Đan Mạch.
  • Sở Y tế Florida đã tiến hành nghiên cứu một loạt ca bệnh tự kiểm soát (SCCS) trong khoảng thời gian 25 tuần, tương tự như một phân tích được thực hiện ở Vương quốc Anh. Nghiên cứu ở Florida cho thấy nguy cơ tử vong do tim cao ở nam giới từ 18-39 tuổi trong vòng 28 ngày kể từ khi chích vaccine mRNA COVID.
  • Các tài liệu y tế cho thấy viêm cơ tim sau khi chích vaccine COVID có thể xảy ra ngay lập tức và nghiêm trọng, với tỷ lệ cao tới 1 trên 1,862 ca đối với nam giới từ 18-24 tuổi.
  • Có một số giả thuyết về việc làm thế nào mà protein gai có thể gây ra tình trạng tổn thương tim này, đặc biệt là ở nhóm nam giới trẻ tuổi. Việc ghi lại các ca bệnh trên toàn thế giới sẽ giúp làm sáng tỏ các yếu tố nguy cơ.
  • Việc lo lắng về các triệu chứng sau chích ngừa có thể tạo ra một vòng phản hồi tiêu cực. Thay vào đó, hãy thử một số mẹo quản lý sau:
  • Để kiểm soát tâm trạng lo lắng, hãy thử hít thở sâu (đếm đến 4), giữ trong 4 nhịp đếm và từ từ thở ra trong 8 nhịp đếm. Nếu quý vị có máy đo huyết áp tại nhà, hãy thử sử dụng phương pháp phản hồi sinh học để theo dõi huyết áp của quý vị giảm xuống trong lúc thực hiện những kỹ thuật này. Quý vị sẽ lấy lại niềm tin vào khả năng điều chỉnh căng thẳng của cơ thể bằng cách yêu cầu hệ thần kinh phó giao cảm tắt những cảnh báo do hệ thần kinh giao cảm đặt ra.
  • Mặc dù hướng dẫn gần đây từ Florida khá chấn động đối với một số người ở Hoa Kỳ, nhưng thật yên lòng khi thấy rằng tư duy phản biện vẫn còn tồn tại và được vận dụng tốt. Y học không trì trệ, nhưng cũng không phải là câu trả lời cho mọi thứ.

Tổng Y sĩ của Florida, Tiến sĩ Y học và Triết học Joseph Ladapo đã thông báo hôm 07/10/2022 rằng tiểu bang này hiện khuyến cáo không nên chích vaccine mRNA COVID-19 cho nam giới từ 18-39 tuổi dựa trên kết quả của một nghiên cứu gần đây, cho thấy mức tăng 84% trong nguy cơ tử vong do tim ở nam thanh niên trong vòng 28 ngày sau khi chích vaccine mRNA COVID-19.

Thông báo này diễn ra sau hướng dẫn được ban hành hồi tháng 03/2022 khuyến cáo không nên chích vaccine mRNA COVID-19 cho trẻ em khỏe mạnh và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi. Do đó, Florida là tiểu bang duy nhất của Hoa Kỳ khuyến cáo không nên chích vaccine mRNA cho trẻ em và người lớn khỏe mạnh, nhưng tiểu bang này lại tham gia cùng với Vương quốc Anh, Thụy Điển, và Đan Mạch trong việc loại bỏ khuyến nghị để chích ngừa cho trẻ em khỏe mạnh dưới 11 tuổi (Anh) hoặc người 18 tuổi (Thụy Điển) và thậm chí là người 50 tuổi (Đan Mạch).

Tiến sĩ Ladapo khuyến khích người Florida “thảo luận về mọi lợi ích và rủi ro tiềm ẩn của việc chích các loại vaccine mRNA COVID-19 với nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe của họ.” Người dân ở Florida có thể chọn chích ngừa cho con mình dựa trên mức độ chấp nhận rủi ro của bản thân các con, và hướng dẫn này không ngăn cản các gia đình tìm kiếm [dịch vụ] chích ngừa thông qua các hiệu thuốc và văn phòng bác sĩ nếu họ có nguyện vọng như vậy.

Tại sao?

Sở Y tế Florida đã tiến hành nghiên cứu một loạt ca bệnh tự kiểm soát (SCCS) để đánh giá nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân và tử vong do tim sau khi chích ngừa. SCCS là một phương pháp lâu đời được sử dụng thường xuyên để đánh giá các biến cố bất lợi liên quan đến vaccine. Ưu điểm của phương pháp này là các ca kiểm soát đối ứng (matched control) là không cần thiết vì mỗi trường hợp đóng vai trò là ca kiểm soát riêng của chính mình. Thời gian nghiên cứu là từ lúc được chích ngừa cho đến kết quả được đánh giá (tử vong).

Nghiên cứu này (pdf) đã loại trừ những bệnh nhân bị nhiễm COVID đã biết, do đó, những phát hiện không so sánh trực tiếp nguy cơ tương đối của việc chích ngừa với việc nhiễm bệnh, một trong những hạn chế của nghiên cứu này.

Tuy nhiên, câu hỏi mà các tác giả tìm cách trả lời được thúc đẩy bởi thực tế là ít nhất 67% thanh niên hiện nay đã có miễn dịch tự nhiên sau khi nhiễm bệnh. So với thời kỳ trước khi xuất hiện biến thể Omicron khi có ít người khỏi bệnh do nhiễm SARS-CoV-2 hơn, thì bối cảnh miễn dịch hiện nay đã khác. Hầu hết mọi người đều có khả năng miễn dịch thông qua chích ngừa, nhiễm bệnh, hoặc cả hai.

Điều này làm cho khó có thể phát hiện ra lợi ích tổng thể của việc chích ngừa ở những người vốn dĩ đã có nguy cơ thấp, và có khả năng miễn dịch, trong bối cảnh nguy cơ về tim liên quan đến vaccine. Trên thực tế, hướng dẫn của Florida đã viết rõ là: “Với mức độ miễn dịch toàn cầu cao đối với bệnh COVID-19, lợi ích của việc chích ngừa có thể bị lấn át bởi nguy cơ tử vong cao bất thường liên quan đến tim ở nam giới trong độ tuổi này.”

Nam giới trên 60 tuổi có nguy cơ tử vong liên quan đến tim tăng 10% trong vòng 28 ngày sau khi chích vaccine mRNA COVID-19, còn các loại vaccine COVID-19 không phải mRNA không được tìm thấy có những nguy cơ gia tăng này ở bất kỳ quần thể nào. Nghiên cứu này cũng xem xét tỷ lệ tử vong do tim mạch ở phụ nữ, nhưng xu hướng này không nổi bật về mặt số liệu.

Một nghiên cứu tương tự (pdf) đã được thực hiện ở Vương quốc Anh và được phát hành dưới dạng một bản báo cáo sơ bộ, sử dụng các phương pháp gần như giống hệt, chẳng hạn như mã số trên giấy chứng tử liên quan đến tim (ICD-10 I30-I52) nhưng không tìm thấy một nguy cơ tử vong cao nào do bệnh tim ở những người trẻ tuổi sau khi chích vaccine mRNA COVID-19. Tuy nhiên, nghiên cứu của Vương quốc Anh đã tìm thấy một nguy cơ tử vong do bệnh tim ở những người chưa chủng ngừa trong giai đoạn nguy cơ sau khi nhiễm bệnh. Nghiên cứu của Florida đã giới hạn phân tích của họ chỉ trong những người đã chủng ngừa.

Một số khác biệt khác trong đề cương nghiên cứu rất đáng chú ý. 

Thứ nhất, nghiên cứu của Florida bao gồm tất cả các cá nhân được chích ngừa đầy đủ (hai liều vaccine công nghệ mRNA) nhưng không bao gồm những người được chích mũi bổ sung, trong khi nghiên cứu của Vương quốc Anh bao gồm cả những người đã được chích mũi bổ sung. 

Thứ hai, nghiên cứu của Vương quốc Anh bao gồm độ tuổi từ 12-29 trong khi nghiên cứu của Florida bao gồm độ tuổi từ 18-39. 

Thứ ba, so sánh về giai đoạn, nghiên cứu của Vương quốc Anh thực hiện ở tuần thứ 6 đến tuần thứ 12 sau khi chích ngừa, còn nghiên cứu của Florida thực hiện từ tuần thứ 5 đến tuần thứ 25 sau khi chích ngừa.

Thứ tư, nghiên cứu của Vương quốc Anh bắt đầu thu thập dữ liệu trong tháng 02/2022, trong khi nghiên cứu của Florida kết thúc thu thập dữ liệu vào ngày 01/06/2022 để đưa ra một giai đoạn quan sát kéo dài 25 tuần.

Cuối cùng, giai đoạn nghiên cứu cơ sở và các giai đoạn nguy cơ cũng khác nhau. Trong nghiên cứu của Vương quốc Anh, giai đoạn nguy cơ là trong vòng 6 tuần sau khi chích ngừa, trong khi trong nghiên cứu của Florida, giai đoạn nguy cơ là trong vòng 28 ngày kể từ sau khi chích ngừa. Giai đoạn nguy cơ ngắn hơn trong nghiên cứu của Florida sẽ giúp loại trừ các vấn đề về tim liên quan đến MIS-A (tình trạng viêm tim, có thể xảy ra sau nhiễm virus SARS-CoV-2 trong khoảng 4-6 tuần).

Việc các nhà điều tra Vương quốc Anh có điều chỉnh đối với tỷ lệ cao các ca bệnh ngẫu nhiên trong số những người nhập viện hay không thì vẫn chưa được rõ. Ví dụ: một ca tử vong do bệnh tim liên quan đến việc sử dụng thuốc quá liều có thể được mã hóa là tử vong do virus SARS-CoV-2 trong khi bệnh này có thể không phải là nguyên nhân căn bản gây tử vong. Trong những trường hợp này, SARS-CoV-2 được coi là “ngẫu nhiên” dẫn đến tử vong. Chẳng hạn, hôm 11/10/2022, bảng thông tin về COVID-19 của Sở Y tế Massachusetts báo cáo rằng trong số 856 bệnh nhân nhập viện dương tính với COVID-19, 293 (34%) nhập viện chủ yếu do nhiễm COVID-19 (66% là ngẫu nhiên).

Cả hai nghiên cứu đều có những hạn chế, chẳng hạn như thiếu dữ liệu về các trường hợp tử vong không được ghi nhận trong giai đoạn theo dõi sau nghiên cứu. Ngoài ra, theo Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh (NHS), chương trình vaccine của Vương quốc Anh chủ yếu sử dụng vaccine của hãng Pfizer (58%) và vaccine vector adenovirus của hãng Astra-Zeneca (35%) với rất ít của hãng Moderna (6%) (tính đến ngày 28/09/2022).

Ngược lại, Hoa Kỳ phụ thuộc rất nhiều vào vaccine mRNA (97%, bao gồm 59% của Pfizer và 38% của Moderna); vaccine vector adenovirus (Janssen) chỉ chiếm 3% số số liều được sử dụng theo Statista (tính đến tháng 09/2022). Sự khác biệt đáng kể như vậy trong việc sử dụng vaccine mRNA có thể là một yếu tố cần xem xét khi so sánh kết quả nghiên cứu.

Cuối cùng, Dịch vụ Y tế Quốc gia của Vương quốc Anh đã khuyến nghị khoảng thời gian dùng thuốc kéo dài cho loạt mũi chính (12 tuần) được cho là để giảm thiểu nguy cơ viêm cơ tim và không bắt đầu chích ngừa cho trẻ vị thành niên cho đến tháng 09/2021, trong khi Hoa Kỳ bắt đầu khuyến nghị chích ngừa trong tháng 05/2021, do đó có khả năng giới hạn khoảng thời gian quan sát để nắm bắt các biến cố hiếm gặp ở Vương quốc Anh.

Khi xem xét những yếu tố phương pháp luận này, Tiến sĩ y khoa về dịch tễ học Tracy Beth Høeg cho biết “Điều quan trọng cần lưu ý là, mặc dù nghiên cứu ở Florida cho thấy tỷ lệ tử vong do tim mạch tăng 84% ở nam giới từ 18-39 tuổi sau khi chích vaccine mRNA, nhưng tổng số trường hợp tử vong vượt quá mức dự báo chỉ là những con số hàng đơn vị, vì vậy chúng ta đang không nói về một số lượng lớn người tử vong (mặc dù tất nhiên tất cả những cái chết đều là một thảm kịch, đặc biệt là của những người trẻ tuổi). Còn lâu mới có thể kết luận được liệu những ca tử vong này có phải do vaccine hay không, vì những điều không chắc chắn đã được nêu rõ trong phân tích.” Tiến sĩ Høeg còn cung cấp thêm quan điểm về cách mà nghiên cứu này phù hợp như thế nào với các tài liệu hiện có về nguy cơ tim mạch sau khi chích vaccine COVID-19 mRNA trong một bài bình luận gần đây.

Tiến sĩ Høeg đã hợp tác trong một số dự án nghiên cứu về bệnh viêm cơ tim liên quan đến vaccine, bao gồm cả trong vai trò là tác giả chính, cùng với Thạc sĩ Y tế Công cộng Allison Krug, và ông Josh Stevenson, về phân tích lợi ích-rủi ro phân tầng của việc chích vaccine mRNA ở thanh thiếu niên từ 12-17 tuổi.

“Khoảng tin cậy về ước tính (tử vong do tim mạch ở Florida) cũng rộng và điểm cuối rất gần với 1,” bà giải thích, “vì vậy chúng ta có thể đang nói về một vài trường hợp tử vong đã tạo ra tín hiệu này. Chúng ta cũng không có thông tin về việc có hay không có những trường hợp tử vong vượt quá mức dự báo sau ‘khoảng thời gian nguy cơ’ 28 ngày do thiết kế của nghiên cứu. Dấu hiệu của việc tăng nguy cơ tử vong do bệnh tim sau khi chích vaccine mRNA cần được coi trọng, đặc biệt là với những gì chúng ta biết về nguy cơ viêm cơ tim sau khi chích ngừa, nhưng nghiên cứu này chỉ nên được sử dụng trong bối cảnh của các nghiên cứu khác và các dòng bằng chứng khác.”

Cũng cần lưu ý rằng nghiên cứu ở Florida không bao gồm liều bổ sung cũng như thanh thiếu niên dưới 18 tuổi. Khi xem xét bệnh viêm cơ tim liên quan đến vaccine (viêm tim), chúng ta thấy rằng nguy cơ tử vong vượt quá mức dự báo có liên quan đến các liều chính ở nam thanh thiếu niên, một mối quan tâm đã thúc đẩy hướng dẫn vào tháng 03/2022 của Florida chống lại việc chích ngừa cho trẻ em và thanh thiếu niên khỏe mạnh dưới 18 tuổi.

CDC đã báo cáo 200.3 phần triệu nguy cơ viêm cơ tim sau khi chích liều bổ sung ở nam giới từ 16-17 tuổi (hoặc 1/5000, dữ liệu VSD, slide 25), cao hơn so với độ tuổi 18-29 (47.6-70.3 phần triệu, slide 34). Một nghiên cứu hữu ích tiếp theo có thể xem xét mở rộng các nhóm tuổi ở Florida xuống 12 tuổi như Vương quốc Anh đã làm và bao gồm việc đưa thêm các liều bổ sung vào ngoài các liều chính.

Bằng chứng lâm sàng hỗ trợ hướng dẫn này

Cho đến nay, dữ liệu về kết quả tim mạch sau khi chích vaccine mRNA COVID-19 là thuyết phục đối với bệnh viêm cơ tim ở nam giới dưới 40 tuổi, cả với các liều chính và liều bổ sung. Tỷ lệ viêm cơ tim sau khi chích liều vaccine mRNA COVID-19 thứ hai là 1/2650 ở nam giới 12-17 tuổi và 1/1862 ở nam giới từ 18-24 tuổi. Sau khi chích liều bổ sung, tỷ lệ này là 1/7000 ở nam giới trong độ tuổi 18-39.

Mặc dù các báo cáo trên các phương tiện truyền thông về viêm cơ tim thường mô tả các trường hợp là “nhẹ” với khả năng hồi phục nhanh chóng, nhưng các tài liệu đã xuất bản — bao gồm cả từ CDC — lại chứng minh điều ngược lại. Một người đàn ông Nam Hàn 22 tuổi đã bị đau ngực 5 ngày sau khi chích vaccine BNT162b2 (Pfizer) liều đầu tiên và tử vong vì viêm cơ tim được xác nhận trong khám nghiệm tử thi sau 7 giờ. Ngay cả trong số những người nhập viện rồi sau đó xuất viện, thì tiên lượng lâu dài của viêm cơ tim liên quan đến đột tử do bệnh tim hoặc tử vong do mọi nguyên nhân vẫn chưa được biết. Hàng loạt nghiên cứu về loạt ca bệnh tiếp theo và các nghiên cứu khảo sát đã phát hiện ra dựa trên phương pháp chụp cộng hưởng từ tim về tỷ lệ viêm dai dẳng đáng lo ngại trong khoảng 70-80% số trường hợp trong 3-8 tháng sau đó.

Theo một nghiên cứu gần đây của Hệ thống Báo cáo Biến cố Bất lợi của Vaccine (Vaccine Adverse Event Reporting System, VAERS) thuộc CDC được công bố trên The Lancet, trong số 93% các ca viêm cơ tim phải nhập viện, cứ bốn người thì có một người được đưa vào phòng chăm sóc đặc biệt (ICU) và một người phải sử dụng thiết bị cứu sinh xâm lấn nhất hiện có (thiết bị ECMO, hay tim phổi nhân tạo).

Bác sĩ tim mạch Anish Koka đã xem xét nghiên cứu của CDC nói trên và nhận thấy những kết luận này không giúp trấn an chút nào. “Nghiên cứu hiện tại này sẽ xua tan quan niệm đáng cười cho rằng viêm cơ tim lâm sàng — một căn bệnh mà sự tồn tại được biết đến khi quý vị bị đau ngực vì các tế bào tim của quý vị đang tử vong — là bệnh nhẹ.”

Trong tối thiểu 90 ngày (trung bình 143 ngày) sau lần nhập viện đầu tiên, ⅓ số bệnh nhân vẫn chưa hồi phục hoàn toàn, 31% bị hạn chế hoạt động, và 26% vẫn đang dùng thuốc trợ tim (chủ yếu là nhóm thuốc chẹn beta và colchicine).

Bác sĩ tim mạch Sanjay Verma, thành viên của Trường Đại học Tim mạch Hoa Kỳ (ACC), đồng tình trong một bài bình luận gần đây về những phát hiện của CDC. “Điều quan trọng cần lưu ý là khi theo dõi tiếp, 50% trẻ em vẫn còn các triệu chứng, một con số đáng kinh ngạc là 60% không được theo dõi tiếp hoặc bị loại khỏi phân tích, và 80% không có các mối lo ngại về bệnh nền trước đó.”

Các bằng chứng và giả thuyết nghiên cứu căn bản về tổn thương tim

Tại sao cả bệnh tật và chích ngừa đều là một rủi ro? Ngoài ra, tại sao chích ngừa lại có thể là một nguy cơ cụ thể ở nhóm dân số trẻ?

Protein gai xâm nhập vào tế bào thông qua một protein xuyên màng (TMPRSS2) và thụ thể ACE2, được biểu hiện trong đường thở, ruột, tim, gan, mạch máu, và thận.

Nghiên cứu trong hai năm qua đã làm sáng tỏ một số giả thuyết liên quan đến tác động trực tiếp và gián tiếp của protein gai SARS-CoV-2 đối với tim và vi mạch. Phản ứng miễn dịch quá mức cũng có thể đóng một vai trò trong chấn thương tim. Ái lực của protein gai đối với ACE2 cũng giải thích lý do tại sao SARS-CoV-2 có thể có những tác động toàn thân trên diện rộng nếu hệ thống miễn dịch không thể ngăn chặn SARS-CoV-2 trên đường đi của nó một cách nhanh chóng.

  • Chấn thương tim liên quan đến nhiễm trùng

Tổn thương tim trực tiếp và nhịp tim bất thường có thể xảy ra ngay cả khi nhiễm SARS-CoV-2 nhẹ. Hai nghiên cứu về nhịp tim đã tìm thấy bằng chứng về sự lây lan từ tế bào này sang tế bào khác thông qua quá trình dung hợp protein gai-màng trung gian (hợp bào) trong tim, cho phép virus này lây lan lén lút từ tế bào này sang tế bào khác.

Sau ca tử vong của một sản phụ gốc Tây Ban Nha 35 tuổi sinh con được 3 tháng bị  sốt nhẹ một tuần, đánh giá cơ tim đã tìm thấy bằng chứng về các tế bào cơ tim có glycoprotein gai của SARS-CoV-2 trong các ống chữ T được xếp thẳng hàng. Các nhà điều tra đưa ra giả thuyết rằng sự tử vong đột ngột liên quan đến tim của người phụ nữ này là do các tế bào miễn dịch đã mang SARS-CoV-2 đến cơ tim. Các kết nối giữa các tế bào tạo ra bởi glycoprotein gai đã tạo ra các kết hợp màng, những thứ sau đó đã gây ra hoạt động điện sinh lý bất thường và dẫn đến rối loạn nhịp tim khiến tử vong.

Để khám phá sâu hơn tình trạng rối loạn nhịp tim này, một nghiên cứu khác đã sử dụng các tế bào cơ tim làm ra từ tế bào gốc vạn năng để phát hiện những bất thường cụ thể liên quan đến sự hình thành của hợp bào hình gai. Các tế bào bị nhiễm bệnh tạo ra các tế bào khổng lồ đa nhân (hợp bào) với điện dung (khả năng lưu trữ điện tích) của tế bào tăng lên. Hợp bào cũng cho thấy CA2+ xử lý các bất thường, bao gồm tia lửa và sóng lớn giống như “sóng thần”.

Trong một nghiên cứu SCCS khác trên dân số của Vương quốc Anh, tác giả Pantone và cộng sự đã phát hiện ra nguy cơ rối loạn nhịp tim gia tăng sau khi nhiễm SARS-CoV-2, đặc biệt là ở những người từ 40 tuổi trở lên. Nghiên cứu này cũng đánh giá nguy cơ rối loạn nhịp tim sau khi chích ngừa, phân tầng theo độ tuổi nhỏ hơn 40 hoặc từ 40 tuổi trở lên. Nói tóm lại, nguy cơ tương đối của các bất thường nhịp tim liên quan đến việc bị nhiễm bệnh tăng lên theo tuổi, trong khi những nguy cơ liên quan đến chích ngừa giảm theo tuổi (Bảng bổ sung 3a).

Protein gai cũng có thể ảnh hưởng đến vi mạch bằng cách gây ra sự gián đoạn cho các pericyte (tế bào ngoại mạch liên quan đến co mạch máu). Trong một nghiên cứu trong ống nghiệm, việc tiếp xúc với protein gai gây ra các thay đổi về tín hiệu và chức năng, điều này cho thấy rằng protein gai có thể gây rối loạn chức năng cho pericyte và góp phần gây tổn thương vi mạch.

Việc nhiễm bệnh cũng có thể gây ra tổn thương tim gián tiếp thông qua phản ứng viêm quá mức do cytokine, dẫn đến một cuộc tấn công tự miễn ở tim. Trong một nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho các tế bào cơ tim nhiễm protein gai, các tế bào cơ tim không cho thấy sự gia tăng quá trình apoptosis (chết tế bào). Thay vào đó, các nhà nghiên cứu nhận thấy “khả năng sống bị giảm đáng kể” khi các tế bào cơ tim tiếp xúc với các tế bào máu đơn nhân ngoại vi (tế bào lympho, bao gồm tế bào T, tế bào B và tế bào tiêu diệt tự nhiên (NK)) đã được làm quen trước với việc tiếp xúc với protein gai. Nói cách khác — họ đã thử xem liệu các tế bào cơ tim có chết khi tiếp xúc trực tiếp với protein gai hay chúng chết sau khi tiếp xúc với các cytokine bị kích hoạt khi tiếp xúc với protein gai. Các nhà điều tra kết luận rằng việc nhiễm SARS-CoV-2 có thể gây tổn thương tim gián tiếp thông qua các cytokine được kích hoạt quá mức.

  • Tổn thương tim liên quan đến chích ngừa

Các nghiên cứu khác để làm sáng tỏ con đường mà việc chích ngừa vaccine mRNA COVID-19 có thể làm tăng nguy cơ viêm cơ tim ở nam giới trẻ tập trung vào vai trò của catecholamine.

Trong khi giả thuyết này đòi hỏi phải điều tra thêm, một cuộc rà soát đánh giá phạm vi tài liệu đưa kết luận rằng “Các phát hiện dịch tễ học, khám nghiệm tử thi, phân tử, và sinh lý học nhất trí và đặc biệt gợi ý rằng hiện tượng tăng tiết ra catecholamine là nguyên nhân quan trọng của các trường hợp viêm cơ tim hiếm gặp do các thành phần của SARS-CoV-2, có khả năng làm tăng tỷ lệ đột tử ở các vận động viên nam ưu tú.”

Trạng thái catecholamine tăng cao này được thúc đẩy bởi protein gai mRNA được tạo ra trong các tế bào chromaffin của tủy thượng thận (chịu trách nhiệm sản xuất catecholamine). Điều này dẫn đến hormone noradrenaline gia tăng hoạt động, khiến cho catecholamine được giải phóng nhiều hơn khi nghỉ ngơi ở các vận động viên nam và tăng độ nhạy cảm với sự hiện diện của nội tiết tố androgen.

Nói cách khác, nguy cơ viêm cơ tim gia tăng ở nam giới trẻ tuổi rõ ràng cho thấy có sự liên kết với androgen (hormone sinh dục nam) đi kèm với tác động của protein gai lên tế bào tim. Tổng hợp lại, giả thuyết thú vị này cho thấy rằng, ngoài tuổi và giới tính, sự thể hiện của androgen và hoạt động thể thao có thể dẫn đến việc xuất hiện viêm cơ tim sau khi chích ngừa mRNA.

Một giả thuyết khác đã được khám phá trong một nghiên cứu về tình trạng viêm tim qua trung gian kháng thể do các bác sĩ người Đức thực hiện trên một nhóm 61 bệnh nhân, 40 người trong số họ được phát hiện bị viêm cơ tim qua xác nhận bằng sinh thiết sau khi chích vaccine SARS-CoV-2 mRNA. Nhóm bệnh nhân trẻ tuổi (<21 tuổi) dường như có tương quan với sự hiện diện của kháng thể kháng IL1-RA: 9 trên 12 bệnh nhân (chiếm 75%) dưới 21 tuổi có kháng thể trong khi ở nhóm 21 tuổi trở lên, chỉ có 3 trên 28 bệnh nhân có kháng thể (chiếm 11%).

Các kháng thể này không được tìm thấy ở những bệnh nhân thiếu bằng chứng về viêm cơ tim. Sự hiện diện của các kháng thể này dường như có liên quan đến sự khởi phát sớm của các triệu chứng, thường là sau liều hai của một loại vaccine mRNA COVID-19, và những người không có kháng thể thì trải qua một đợt viêm cơ tim nhẹ hơn. 

  • Tại sao tuổi tác có thể là một yếu tố?

Các biến cố bất lợi toàn thân sau khi chích ngừa  (reactogenicity) bao gồm sốt, đau cơ, nhức đầu và các tác dụng toàn thân khác làm gián đoạn các hoạt động hàng ngày. Do sức mạnh của hệ thống miễn dịch suy yếu theo tuổi tác (được gọi là sự lão hóa của hệ thống miễn dịch), những người trẻ hơn (<50 tuổi) được phát hiện là có phản ứng bất lợi toàn thân cao hơn. 

Sử dụng nhiều sản phẩm từ các nhà sản xuất khác nhau (chích các liều vaccine khác nhau) cũng làm tăng khả năng xảy ra phản ứng bất lợi toàn thân, điều này được cho là do sự khác biệt về kháng nguyên giữa các nhà sản xuất gây kích thích hệ thống miễn dịch. Khả năng xuất hiện các biến cố bất lợi toàn thân dường như cao gấp đôi nếu người đó từng nhiễm SARS-CoV-2 vì kháng nguyên của vaccine trước không chỉ khác so với lần tiếp xúc với virus gần đây nhất, mà vaccine còn đóng vai trò tăng cường phản ứng miễn dịch xảy ra trong lần nhiễm bệnh này.

Một nghiên cứu khác được thực hiện giữa các nhân viên y tế cho thấy rằng nhiễm SARS-CoV-2 trước đó làm tăng gấp ba lần nguy cơ phản ứng toàn thân có thể ảnh hưởng đến công việc hoặc các hoạt động hàng ngày sau mũi chích đầu tiên. Những nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá cẩn thận các rủi ro và lợi ích của việc chích ngừa theo các khía cạnh độ tuổi, tiền sử nhiễm bệnh, và bệnh nền.

Mặc dù cơ chế chính xác của tổn thương tim sau khi nhiễm bệnh và chích ngừa chưa được hiểu đầy đủ, nhưng các khuynh hướng sau đây thường được y văn ủng hộ: 1) tổn thương tim sau khi nhiễm bệnh có xu hướng tăng theo tuổi; 2) tổn thương tim sau khi chích ngừa có xu hướng cao hơn ở những người dưới 40 tuổi, và đặc biệt là nam giới; 3) tuổi càng trẻ làm tăng khả năng xảy ra các tác động bất lợi toàn thân làm gián đoạn công việc và các hoạt động hàng ngày.

Các yếu tố khác góp phần dẫn đến đột tử

Một số hướng nghiên cứu khác đang khám phá các yếu tố có thể góp phần dẫn đến đột tử, chẳng hạn như dị vật và sự hình thành cục máu đông sau khi chích ngừa. Đại dịch đã góp phần vào sự hợp tác toàn cầu trong nghiên cứu sức khỏe ở mức độ chưa từng có, cũng mở ra cánh cửa cho sự hợp tác nghiên cứu liên quan đến an toàn vaccine.

Để đạt được mục tiêu này, một đóng góp quan trọng trong việc tìm hiểu căn nguyên của viêm cơ tim và tử vong do tim là thiết lập một cơ quan đăng ký các ca bệnh trên toàn thế giới. Việc đăng ký như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn ngoài độ tuổi và giới tính.

Ví dụ, nếu nội tiết tố androgen quan trọng đối với sự biểu hiện của catecholamine, thì liệu pháp T-boosting (liệu pháp thay thế testosterone) có thể đóng vai trò gì ở các nam vận động viên và vận động viên thể hình trẻ tuổi trong bệnh viêm cơ tim do vaccine hoặc đột tử do tim? Việc gắng sức có làm trầm trọng thêm tình trạng tổn thương tim và rối loạn nhịp tim không? Còn các dấu hiệu di truyền, chẳng hạn như haplotype HLA, thì sao?

Gợi ý cho những người đang gặp khó khăn với lo âu

Những người lo lắng về việc chích ngừa có thể đặc biệt lo lắng về các tác dụng phụ sau chích ngừa. Điều này có thể tạo ra một vòng phản hồi tiêu cực đáng tiếc, gây thêm căng thẳng, lo lắng và thậm chí là một cơn hoảng loạn. Các triệu chứng liên quan đến hoảng sợ — đau ngực, thắt chặt, khó thở, và tim đập nhanh — có thể khiến bệnh nhân khó có thể phân biệt với các vấn đề về tim.

Lời khuyên chung sau đây về việc kiểm soát lo lắng không phải là lời khuyên y tế sau khi xảy ra các biến cố bất lợi liên quan đến vaccine mRNA COVID-19. Điều quan trọng là phải tìm kiếm sự chăm sóc ngay lập tức nếu quý vị có bất kỳ phản ứng phụ nào sau khi chích ngừa dưới bất kỳ hình thức nào.

Để kiểm soát sự lo lắng, hãy thử hít sâu (đếm đến 4 trong khi hít vào), giữ hơi thở của quý vị trong 4 nhịp đếm và thở ra chậm trong 8 nhịp đếm. Nếu quý vị có máy đo huyết áp tại nhà, hãy thử áp dụng phương pháp này để hạ huyết áp. Quý vị sẽ lấy lại niềm tin vào khả năng điều chỉnh căng thẳng của cơ thể bằng cách hướng dẫn hệ thần kinh phó giao cảm tắt các báo động do hệ thần kinh giao cảm kích hoạt.

Đau cơ, đau đầu, và các vấn đề khác (như sốt) có thể được điều trị bằng thuốc giảm đau không kê đơn. Các triệu chứng này ảnh hưởng đến ít nhất 1 trong 3 người được chích ngừa mRNA COVID-19 và phổ biến hơn ở những người dưới 50 tuổi, những người đã sử dụng các nhãn hiệu khác nhau (chích các liều vaccine khác nhau) hoặc những người trước đó đã bị nhiễm SARS-CoV-2 (hầu hết chúng ta đều như vậy vào thời điểm này).

Nghỉ ngơi, ăn uống đầy đủ, tránh sử dụng caffeine và làm một số việc thú vị giúp quý vị giải khuây (cảm xúc vui vẻ là khá quan trọng!).

Hãy nhớ rằng bộ não của quý vị có thể tự tạo ra một số chất dẫn truyền thần kinh mạnh nhất trên hành tinh. Tụ tập cùng với những người thân yêu hoặc bè bạn và việc cười sảng khoái sẽ giúp giải phóng oxytocin. Dùng bữa tối với một ly rượu vang sẽ giúp giải phóng dopamine (tập thể dục hay làm một việc khó khăn đòi hỏi sự tập trung cũng vậy). Nếu như chơi một trò chơi chiến lược giúp quý vị thư giãn, thì hãy làm điều đó. Nghe podcast hoặc giả như quý vị đang học một ngôn ngữ thứ hai, thì hãy thử nghe podcast bằng ngôn ngữ mà quý vị đang học. Các hoạt động đơn giản như cắt cỏ, nhổ cỏ, dắt chó đi dạo, giải đố ô chữ hoặc chơi Wordle cũng có thể mang tính chất giải tỏa.

Quan điểm

Giá trị của việc chích vaccine mRNA COVID-19 là giảm thiểu tử vong ở những người có nguy cơ cao nhất, đặc biệt là những người gặp phải tình trạng suy giảm miễn dịch hoặc ở những người cao tuổi nhất. Theo bác sĩ y khoa Paul Offit, Giám đốc Trung tâm Giáo dục Chích ngừa và là giáo sư nhi khoa tại Khoa Bệnh truyền nhiễm ở Bệnh viện Nhi Philadelphia, chiến lược chích ngừa bổ sung cho những người có nguy cơ mắc bệnh cao nhất là bước đi đúng đắn. Trong một cuộc thảo luận gần đây trên This Week in Virology, ông ủng hộ chủ yếu tập trung vào người cao tuổi, những người sống trong các cơ sở chăm sóc dài hạn và những người có tình trạng suy giảm miễn dịch. Một nghiên cứu được thực hiện ở Thụy Điển ủng hộ cách tiếp cận này: liều bổ sung giúp giảm thiểu 40% đến 70% tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân ở những người ốm yếu nhất trong đợt bùng phát Omicron.

Mặc dù hướng dẫn gần đây của Florida là khá chấn động đối với một số người ở Hoa Kỳ, nhưng thật yên lòng khi thấy rằng tư duy phản biện vẫn còn tồn tại và được vận dụng tốt trong quá trình hình thành chính sách. Thật không mấy thoải mái khi xem xét lại chính sách trong quá khứ dưới sự phơi bày của bằng chứng mới, nhưng đây là tất cả những gì y học hướng đến — đây không phải một môn học trì trệ, mang tính công thức. Đại dịch đã dạy chúng ta rằng tư duy cứng nhắc, mang tính nhị nguyên và chính sách một phương pháp phù hợp cho tất cả mọi người đôi khi gây ra những tác hại khôn lường. Đã đến lúc dẹp bỏ sự tập trung cứng nhắc và hạn hẹp trong việc loại bỏ COVID-19, tiến hành các thử nghiệm lâm sàng được hỗ trợ một cách phù hợp, cung cấp dữ liệu thử nghiệm ở cấp độ cá nhân để nghiên cứu độc lập về các biến cố bất lợi, cũng như công khai các phân tích về lợi ích-rủi ro để người dân có thể giám sát trước khi các quyết định về chính sách y tế công cộng được thực thi.

  • Không phải tất cả các công nghệ cao đều là sáng suốt để khai triển.
  • Không phải tất cả các loại virus đều cần vaccine.
  • Không phải tất cả các loại vaccine đều tốt hoặc có tác dụng bảo vệ.
  • Không phải ai cũng cần chích vaccine.

Tài liệu tham khảo

https://floridahealthcovid19.gov/wp-content/uploads/2022/10/20221007-guidance-mrna-covid19-vaccines-doc.pdf

http://ww11.doh.state.fl.us/comm/_partners/covid19_report_archive/press-release-assets/g2-jtr_QWBT4hJpqr_20220308-1923.pdf

https://www.theepochtimes.com/health/top-causes-of-death-in-us-during-covid-19-pandemic_4646957.html

https://www.theepochtimes.com/health/are-recombinant-covid-vaccines-related-to-these-deaths_4445732.html

Nghiên cứu tử vong do tim:

Bằng chứng lâm sàng:

Bằng chứng nghiên cứu cơ bản:


Dr. Yuhong Dong
BTV Epoch Times Tiếng Anh
Tiến sĩ Đổng Vũ Hồng (Yuhong Dong), bác sĩ y khoa và tiến sĩ về các bệnh truyền nhiễm. Bà là Giám đốc Khoa học kiêm người đồng sáng lập của một công ty công nghệ sinh học Thụy Sĩ, đồng thời là cựu Chuyên gia Khoa học Y tế Cao cấp về Phát triển Thuốc Kháng Virus tại Novartis Pharma ở Thụy Sĩ.

Nhóm biên dịch tin tức Anh ngữ Epoch Times Tiếng Việt
Quý vị tham khảo bản gốc từ The Epoch Times


Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn