Vào mùa thu năm 1962, một nhà sản xuất phi cơ nhỏ bé ở Long Island, Tập đoàn Grumman Aircraft Engineering, đã đánh bại tất cả bảy đối thủ cạnh tranh khác để thành công thu về hợp đồng thực hiện module đổ bộ Mặt Trăng (lunar module). Chuyện này đã diễn ra như thế nào?

Câu chuyện này bắt đầu khi nhà sáng lập công ty, ông Leroy Grumman, thành lập công ty vào năm 1929. Làm việc trong một nhà để xe cho thuê, ông đã bắt đầu quá trình phát triển một số thiết kế thử nghiệm phi cơ riêng của mình. Năm 1932, ông đã giới thiệu với Hải Quân Hoa Kỳ phiên bản FF-1, chiếc chiến đấu cơ đầu tiên do ông sản xuất. Bản thiết kế của chiếc phi cơ này tiếp tục được cải tiến nhiều lần, cuối cùng đã dẫn đến việc ra đời chiếc F4F Wildcat, chiến đấu cơ đầu tiên của tập đoàn Grumman với đôi cánh có thể gấp lại.

Biểu đồ khoang lái của chiếc Apollo Lunar Module. (Ảnh: Cô Jasmina Zhang dành cho tạp chí American Essence)
Biểu đồ khoang lái của chiếc Apollo Lunar Module. (Ảnh: Cô Jasmina Zhang dành cho tạp chí American Essence)

Ông Grumman đã chế tạo ra nhiều loại phi cơ rất mạnh mẽ. Dòng phi cơ “cat”, được chế tạo dành cho Hải Quân Hoa Kỳ, nổi tiếng về việc đưa các thủy thủ đoàn của họ quay trở về căn cứ an toàn. Chiếc phi cơ này rất chắc chắn, được thiết kế và chế tạo để có thể khai triển trên hàng không mẫu hạm, đem lại biệt hiệu “Công trình Sắt Thép của Grumman” cho công ty. Tuy nhiên, kim loại nhôm, mới chính là loại vật liệu mà các kỹ sư của công ty Grumman đã thực sự thành thạo, tạo hình kim loại này thành những hình dạng khí động học đẹp mắt để chế tạo các loại phi cơ của họ.

Sự tham gia của kỹ sư hàng không Tom Kelly

Kỹ sư công ty Grumman, ông Tom Kelly, đã nói về sự tham gia của mình trong giai đoạn đầu phát triển phi thuyền đổ bộ mặt trăng như sau: “Kỳ thực, tôi nghĩ rằng bản thân mình đã tham gia vào những dự án liên quan đến Phi thuyền không gian Apollo cũng lâu như bất kỳ ai khác ở Grumman. Tôi đã bắt đầu việc này hồi năm 1960 — chính xác là vào tháng 04/1960.” Ông Kelly và đội ngũ của mình đã phải cạnh tranh để có các nghiên cứu được NASA tài trợ. Mặc dù họ không thắng được bất kỳ nghiên cứu nào, tuy nhiên ông Kelly cho biết, “chúng tôi đến và trình bày các kết quả nghiên cứu của mình cho những người của NASA ngay trước mặt tất cả những người khác — nhóm của chúng tôi nhận được sự quan tâm rất tích cực từ các nhân viên nội bộ của họ, và chúng tôi sẽ không từ bỏ nghiên cứu của mình; cho dù có được tài trợ hay không, chúng tôi sẽ kiên trì tiếp tục với nghiên cứu đó.” Công trình của ông Kelly đã mở ra một kỷ nguyên hoàn toàn mới cho công ty.

Ông Buzz Aldrin tháo bỏ máy đo địa chấn thụ động ra khỏi một ngăn trong khoan SEQ của Phi thuyền Đổ Bộ (Apollo 11 “Eagle”), ngày 21/07/1969. (Ảnh: Tài sản công)
Ông Buzz Aldrin tháo bỏ máy đo địa chấn thụ động ra khỏi một ngăn trong khoan SEQ của Phi thuyền Đổ Bộ (Apollo 11 “Eagle”), ngày 21/07/1969. (Ảnh: Tài sản công)

Công ty Grumman không phải là một trong những đối thủ cạnh tranh nặng ký cho các hợp đồng của NASA. Ban đầu, họ đề nghị được làm một nhà thầu phụ trong gói thầu của tập đoàn General Electric để xây dựng module Điều khiển và module Dịch vụ. Tuy nhiên, hãng sản xuất hàng không vũ trụ North American Aviation đã đánh bại họ. Dự định ban đầu của NASA đối với module Điều khiển và module Dịch vụ này là sẽ đáp xuống Mặt Trăng và cất cánh trực tiếp từ bề mặt của Mặt Trăng để quay trở về Trái Đất. Cấu hình của phi thuyền không gian có khả năng làm được điều đặc thù này đã được chứng minh là sẽ vô cùng to lớn. Việc đó cần có một chiếc hỏa tiễn lớn hơn rất nhiều so với tất cả những hỏa tiễn đã được phát triển trước đó để đưa phi thuyền không gian này vào không gian. Tuy nhiên, một kỹ sư của Trung Tâm Nghiên Cứu Langley, ông John Houbolt, đã đề nghị mang theo một phi thuyền không gian cỡ nhỏ, chủ yếu chỉ để đáp trên bề mặt của Mặt Trăng. Sau đó, phi thuyền sẽ cất cánh từ bề mặt Mặt Trăng và kết nối lại với Module Điều khiển, bộ phận mà đến ngày nay vẫn còn đang nằm lại trên quỹ đạo của Mặt Trăng.

Chiếc phi thuyền đổ bộ sẽ bị bỏ lại ngay sau khi các phi hành gia di chuyển trở lại vào bên trong module Điều khiển, và module này sẽ quay trở về Trái Đất một mình. Việc tiếp xúc của các phi thuyền không gian trên quỹ đạo Mặt Trăng dường như có chút nguy hiểm, tuy nhiên việc này sẽ làm giảm rất nhiều trọng lượng và cho phép chương trình không gian này tiến triển với nhịp độ tương ứng với thử thách mà Tổng Thống John Kennedy đã đưa ra là đặt chân lên Mặt Trăng ngay trong thập niên đó. Khi NASA quyết định rằng họ sẽ phát triển một chương trình tiếp cận xung quanh điểm tiếp xúc trên quỹ đạo Mặt Trăng, thì ông Tom Kelly và đội ngũ của mình đã được chuẩn bị rất kỹ lưỡng để đưa ra giải pháp. Hãng Grumman đã soạn thảo giải pháp của mình, và Tập Đoàn General Electric đã trở thành nhà thầu phụ chuyên về hệ thống điện tử trên phi thuyền đổ bộ này.

Khi có được hợp đồng này vào năm 1962, ông Kelly và các kỹ sư trong đội ngũ của mình nhận ra rằng họ sẽ đối mặt với cùng một thách thức mà đại danh họa Leonardo da Vinci, anh em nhà Wrights, và nhà phát minh Charles Lindbergh đã từng gặp phải, đó chính là: trọng lượng! Mỗi bước tiến của nhân loại hướng về bầu trời đều phải vượt qua các hạn chế mà trọng lực đã đặt định ra. NASA đưa cho họ một ước lượng ban đầu về trọng lượng của phi thuyền không gian này là khoảng 30,200 pounds (~13,698 kg). Phi thuyền không gian này sẽ đáp xuống Mặt Trăng và sau đó từ bề mặt của Mặt Trăng cất cánh quay trở về điểm tiếp xúc với module điều khiển phù hợp với những giới hạn được quy định này. Họ có bảy năm để làm điều đó.

Ông Armstrong huấn luyện trong phòng điều khiển giả lập của Module Mặt Trăng tại Trung Tâm Không Gian Kennedy vào ngày 19/06/1969. (Ảnh: Tài sản công)
Ông Armstrong huấn luyện trong phòng điều khiển giả lập của Module Mặt Trăng tại Trung Tâm Không Gian Kennedy vào ngày 19/06/1969. (Ảnh: Tài sản công)

Vượt qua các thử thách

Toàn bộ đội ngũ của ông Kelly đã làm việc không ngừng để duy trì trọng lượng theo nhiều cách khác thường — đặc biệt là nguyên lý thiết kế các ghế ngồi dành cho phi hành gia. Hãng Grumman đã chế tạo 15 chiếc phi thuyền đổ bộ, và 6 chiếc trong số đó thực sự đã được đưa lên Mặt Trăng. Một số phi thuyền khác thì được trưng bày trong các viện bảo tàng, và nhiều du khách cũng thường hỏi là các phi hành gia ngồi ở đâu. Năm 1964, đội ngũ thiết kế đã loại bỏ chúng. Các phi hành gia đã lái chiếc phi thuyền đổ bộ này ở tư thế đứng. Với điều kiện trọng lực chỉ bằng 1/6 của Trái Đất, các phi hành gia có thể cất cánh, bay, và hạ cánh với tư thế đứng ở bên trong phi thuyền không gian. Đôi chân của họ là tất cả các bộ giảm chấn mà họ cần. Không có các ghế ngồi, thì các phi hành gia sẽ có thêm nhiều khoảng trống để khoác các bộ trang phục không gian vào, chuẩn bị cho việc đi bộ trên Mặt Trăng. Đồng thời họ cũng có không gian để treo những chiếc võng ngủ trong lúc họ cần nghỉ ngơi khi đang ở trên Mặt Trăng. Việc loại bỏ các chiếc ghế ngồi giúp giảm trọng lượng, đồng thời việc di chuyển cũng cho phép các phi hành gia tiến gần hơn đến các cửa sổ của phi thuyền, giúp thu nhỏ những cánh cửa hơn một cách đáng kể. Việc này đã giúp tiết giảm hàng trăm pounds kính thủy tinh.

Phi hành gia Pete Conrad đã gọi thiết kế cabin này như là một “cấu hình toa xe điện”. Thị trấn Bethpage, tiểu bang New York, nơi mà những chiếc phi thuyền đổ bộ được chế tạo, chỉ cách thành phố Brooklyn 30 dặm về phía Đông, là nơi mà những người vận hành các toa xe điện trên đường ray thật sự phải ở tư thế đứng trong khi lái xe với tay trái điều khiển ga và tay phải kiểm soát thắng. Theo ông Kelly, những toa xe điện này đã truyền cảm hứng cho tên của một đội bóng chày. Những cư dân khu Manhattan, vốn là những người hay sử dụng nhiều tàu điện ngầm hơn, thi thoảng cũng gọi những cư dân ở Brooklyn là “trolley dodgers” (Những chiếc xe điện lắt léo); kể từ đó tên của đội bóng này là Brooklyn Dodgers. Vậy liệu rằng những chiếc toa xe điện ở Brooklyn cũng có ảnh hưởng đến thiết kế của phi thuyền đổ bộ mặt trăng đó không? Thông tin tham khảo từ ông Conrad cũng khá khả dĩ.

Module Mặt Trăng (Spider) của Phi thuyền Apollo 9 được chụp ảnh từ Module Điều khiển vào ngày 07/03/1969, ngày thứ năm trong nhiệm vụ vòng quanh quỹ đạo Trái Đất của Phi thuyền Apollo 9. (Ảnh: Tài sản công)
Module Mặt Trăng (Spider) của Phi thuyền Apollo 9 được chụp ảnh từ Module Điều khiển vào ngày 07/03/1969, ngày thứ năm trong nhiệm vụ vòng quanh quỹ đạo Trái Đất của Phi thuyền Apollo 9. (Ảnh: Tài sản công)
Ông Armstrong sau khi hoàn thành Hoạt Động Thăm Dò Bên Ngoài Phi Thuyền Không Gian Trên Mặt Trăng của Phi thuyền Apollo 11; do ông Aldrin ghi hình vào ngày 20/07/1969. (Ảnh: Tài sản công)
Ông Armstrong sau khi hoàn thành Hoạt Động Thăm Dò Bên Ngoài Phi Thuyền Không Gian Trên Mặt Trăng của Phi thuyền Apollo 11; do ông Aldrin ghi hình vào ngày 20/07/1969. (Ảnh: Tài sản công)

Module Đổ bộ (landing module, LM) phải hoạt động trong các điều kiện nhiệt độ vô cùng khắc nghiệt. Đội ngũ thiết kế đã nghĩ ra tấm Kapton (một loại màng sợi Mylar được phủ vàng lá), loại vật liệu làm cho một số bộ phận ở phía đuôi phi thuyền có vẻ ngoài trông như một “tấm thiếc.” Đơn giản là nó bức xạ nhiệt lượng của mặt trời ra khỏi thân phi thuyền vũ trụ, giống như một tấm chắn kính lái của một chiếc xe hơi đang đậu. Bởi vì phi thuyền đổ bộ này không bao giờ bay trong bầu khí quyển [của Trái Đất], nên nó cũng không cần các thiết kế khí động học — không cần bề mặt cong, mượt mà để giảm ma sát không khí. Phi thuyền vũ trụ này có thể chỉ cần có chân dài và hình dáng như chiếc hộp. Chiếc LM có người lái đầu tiên, được phóng vào quỹ đạo Trái Đất trong sứ mệnh Apollo 9, được gọi là “Con Nhện.” Sau thêm một lần thử nghiệm cuối cùng nữa ở quỹ đạo Mặt Trăng trong sứ mệnh Apollo 10, thì chiếc “Eagle” do hai phi hành gia Neil Armstrong và Buzz Aldrin vận hành trong sứ mệnh Apollo 11, đã đáp xuống Mặt Trăng. Hôm đó là ngày 20/07/1969 — tám năm sau khi tổng thống John F. Kennedy đặt ra thử thách này.

Ông Tom Kelly và đội ngũ tại Grumman đã thực hiện một số ý tưởng vượt ngoài phạm vi của sứ mệnh được giao và đã được chứng minh là vô giá chỉ sau hai sứ mệnh sau đó. Họ đã đề nghị việc thiết kế sức chứa “thuyền cứu sinh” có thể đưa vào bên trong Module đổ bộ. Phần không gian “thuyền cứu sinh” này có thể cứu được sinh mạng của các phi hành gia trên Phi thuyền Apollo 13 khi Module Điều Khiển và Dịch vụ của họ bị hư hại bởi một vụ nổ. Phi hành đoàn đã kích hoạt module đổ bộ và sử dụng nó để cung cấp việc cứu sinh và điều hướng cho đến đúng thời điểm thì họ phóng bỏ module này đi. Module Điều khiển là bộ phận duy nhất của chiếc phi thuyền không gian mà có thể quay trở lại bầu khí quyển. Mặc dù là module đổ bộ mang tên “Aquarius” cuối cùng đã bốc cháy dữ dội khi quay trở lại bầu khí quyển Trái Đất, nhưng đội ngũ “Công Trình Sắt Thép của Grumman” cũng đã thành công đưa thêm một phi hành đoàn nữa trở về nhà của họ an toàn. Năm 1994, hãng Grumman đã sáp nhập cùng với Tập Đoàn Northrup để trở thành Northrup Grumman, một trong những nhà sản xuất phi cơ lớn nhất đất nước.

Bài viết này đã được phát hành chính thức trên tạp chí American Essence.


Bob Kirchman
BTV Epoch Times Tiếng Anh
Ông Bob Kirchman là một họa sĩ minh họa kiến trúc đang sinh sống tại Quận Augusta, tiểu bang Virginia, cùng với vợ là bà Pam. Ông dạy học về nghệ thuật phòng tranh cho các sinh viên tại Hợp Tác Xã Trường Học Tại Gia của các Nhà Giáo Dục Cơ Đốc Giáo ở Quận Augusta.

Hoàng Long biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc tại The Epoch Times

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn