Theo một bài báo mới của Trung tâm Nghiên cứu Quốc phòng Úc, hành động leo thang cưỡng bách đối với Đài Loan của Trung Quốc đã củng cố quyết tâm của hòn đảo tự trị này trong việc chống lại các mối đe dọa của Bắc Kinh.

Hôm 25/11, Tạp chí Nghiên cứu Chiến lược và Quốc phòng của Úc đã phát hành bài báo có nhan đề ‘Về Tư tưởng và Thực tiễn Răn đe của Trung Quốc trong năm 2022,’ đã làm sáng tỏ các khái niệm và hành động cưỡng bách của Trung Quốc, chẳng hạn như sự răn đe và các tác động của những hành vi đó trong một tình huống khủng hoảng Đài Loan.

Tác giả này lập luận rằng các hành động cưỡng bách của Trung Quốc đối với Đài Loan như một phần trong “chính sách Một Trung Quốc” của nước này nhằm “hủy bỏ động cơ căn bản của ngoại giao cưỡng bách.”

Nói một cách trọng yếu, mục tiêu của ngoại giao cưỡng bách là thuyết phục quốc gia bị cưỡng bách rằng “nếu kháng cự, thì họ sẽ nhận lấy tổn thất, nhưng nếu nhượng bộ, thì họ sẽ không gặp tổn hại.” Tuy nhiên, nếu “ở cả hai tình huống ứng phó, họ đều phải chịu tổn thất hoặc nếu đã phải chịu đựng tất cả những gì mà họ có thể, thì họ sẽ không nhượng bộ, và sự cưỡng bách đó sẽ thất bại,” bài báo nêu rõ.

“Ở đây, hành vi hiện tại của Trung Quốc đang cung cấp cho Đài Loan nhiều bằng chứng rằng họ sẽ phải chịu tổn thất bất kể họ kháng cự hay nhượng bộ trước sự cưỡng bách của Bắc Kinh.

“Do đó, người ta có thể cho rằng Đài Loan đã củng cố thêm quyết tâm của họ.”

Bài báo trên được đưa ra ba tháng sau khi Trung Quốc tiến hành cuộc tập trận quân sự lớn nhất từ ​​trước đến nay xung quanh Đài Loan sau một chuyến thăm của Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ Nancy Pelosi hồi đầu tháng Tám.

Chính quyền Trung Quốc đã bị lên án vì vi phạm lãnh hải và vùng nhận dạng phòng không của Đài Loan khi phóng hỏa tiễn qua Đài Loan và tổ chức các cuộc tập trận phong tỏa xung quanh hòn đảo này.

Bình luận về cuộc tập trận quân sự của Trung Quốc, đặc phái viên Đài Loan tại Hoa Kỳ Tiêu Mỹ Cầm (Hsiao Bi-khim) nói rằng, hành động này “đang tạo ra rất nhiều sự chú ý và đồng cảm” đối với tình hình của Đài Loan và thúc đẩy “sự quan tâm nhiều hơn bao giờ hết” đối với việc đến thăm hòn đảo này, Reuters đưa tin hôm 18/08.

Hôm 07/08, bà Tiêu cũng nói với CBS rằng nỗ lực cưỡng bách của Trung Quốc sẽ thúc đẩy những nỗ lực lớn hơn trong cả việc “củng cố hệ thống phòng thủ của riêng chúng tôi” và “các dự án mua bán quân sự của ngoại quốc với Hoa Kỳ.”

Biện pháp răn đe mang đặc trưng Trung Quốc

Bài báo trên cũng nói rằng biện pháp răn đe “mang ‘đặc trưng Trung Quốc’” — được gọi là Uy nhiếp – 威慑 (wēi shè) trong tiếng Quan Thoại — được định hình là “một công cụ để đạt được các mục tiêu chính trị-quân sự” chứ không phải là một mục tiêu về chính sách.

Biện pháp này cũng có hai chức năng mà bài báo lưu ý: “‘Một là để ngăn bên kia làm những gì họ muốn làm thông qua răn đe’ (tức là can ngăn), và ‘hai là dùng biện pháp răn đe để cưỡng bách bên kia phải làm những gì họ phải làm’ (tức là cưỡng bách).”

Bài báo cũng lưu ý rằng điều này có thể được nhận thấy trong “bản chất kép” từ chiến lược của Đảng Cộng sản Trung Quốc nhằm ngăn cản Hoa Thịnh Đốn can thiệp nếu Trung Quốc chọn sử dụng vũ lực băng qua Eo biển Đài Loan đồng thời buộc Đài Bắc phải chấp nhận khái niệm và mô hình “thống nhất” của họ.

“Từ quan điểm của Bắc Kinh, các xu hướng chính trị hiện tại – nếu không được kiểm soát – sẽ đe dọa đến tình huống tồi tệ nhất của họ: một Hoa Kỳ bãi bỏ chính sách ‘mơ hồ chiến lược’ và một Đài Loan thống nhất với nền độc lập trong nước trên thực tế (nếu không muốn nói là hợp pháp),” bài báo cho biết.

“Vấn đề nan giải của Bắc Kinh là các xu hướng chính trị hiện tại về vấn đề Đài Loan trái ngược với mục tiêu của họ, khi chính phủ của bà Thái Anh Văn (Tsai Ing-wen) loại bỏ bất cứ điều gì giống như một kiểu quan điểm ‘Một Trung Quốc,’ và xã hội Đài Loan nhận thấy sự củng cố bản sắc dân tộc Đài Loan và sự ủng hộ ngày càng giảm đối với bất kỳ khái niệm ‘thống nhất’ nào với Trung Quốc đại lục.”

Sự răn đe của Trung Quốc xuyên suốt thời bình – khủng hoảng – chiến tranh

Bài báo trên còn lưu ý thêm rằng sự răn đe mang đặc trưng Trung Quốc kéo dài từ thời bình đến thời khủng hoảng và thời chiến.

Trong thời bình, biện pháp răn đe “chủ yếu là sử dụng sức mạnh quân sự quốc gia, kết hợp với các lực lượng chính trị, kinh tế, ngoại giao, công nghệ, văn hóa và các lực lượng chiến lược khác để tác động đến sự phát triển của tình hình và trì hoãn hoặc ngăn chặn sự bùng nổ chiến tranh,” bài báo lưu ý.

Điều này có thể nhận thấy trong việc Trung Quốc áp đặt các khối thương mại mới đối với Đài Loan và các lệnh trừng phạt kinh tế đối với Úc sau khi Úc kêu gọi điều tra độc lập về nguồn gốc đại dịch COVID-19, cũng như việc chính quyền Trung Quốc sử dụng các kênh truyền thông xã hội như TikTok để mở rộng quyền lực mềm và thu thập dữ liệu của công dân.

“Trong các tình huống khủng hoảng, đến lượt mình, PLA (Quân Giải phóng Nhân dân) sẽ áp dụng một tư thế răn đe cường độ cao, thể hiện một quyết tâm sẵn sàng chiến đấu cứng rắn và sức mạnh thực tế mạnh mẽ, buộc một đối thủ phải nhanh chóng đảo ngược đường hướng,” bài báo cho biết.

“Sử dụng biện pháp răn đe ‘có thể trì hoãn chiến tranh bùng nổ và tạo nhiều điều kiện cho quốc gia này đưa ra các lựa chọn chính trị khác và chuẩn bị cho chiến tranh.

“Nhưng nếu ‘chiến tranh sắp xảy ra, biện pháp răn đe có thể nắm bắt cơ hội cuối cùng để tránh được chiến tranh, hoặc giành thế chủ động trong chiến tranh, đặc biệt là trận chiến đầu tiên, và tạo ra một tình huống quân sự thuận lợi để bước vào một trạng thái chiến tranh.”

Tác giả lưu ý rằng thông tin về cách lý giải của Trung Quốc về biện pháp răn đe được trình bày chi tiết trong bài báo này được thu thập từ các tài liệu như bạch thư quốc phòng Trung Quốc, và Khoa học Chiến lược Quân sự, do Viện Khoa học Quân sự Trung Quốc phát hành hai năm một lần.


Nina Nguyen
BTV Epoch Times Tiếng Anh
Cô Nina Nguyen là một phóng viên tại Sydney. Cô đưa tin về Úc với trọng tâm là các vấn đề xã hội và văn hóa. Cô thông thạo tiếng Việt. Quý vị có thể liên lạc với cô tại [email protected]

Thanh Tâm biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc từ The Epoch Times

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn