Đáng ra Trung Quốc có nên được gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2001 không?

[Về câu hỏi này], ông Stephen Ezell, phó chủ tịch phụ trách Chính sách Đổi mới Toàn cầu tại Quỹ Đổi mới và Công nghệ Thông tin có trụ sở tại Hoa Thịnh Đốn, đã nói với The Epoch Times: “Bây giờ, khi biết được những hành vi ứng xử mà Trung Quốc đã thể hiện với tư cách thành viên của WTO trong 20 năm qua, cùng với việc họ thực sự không thực hiện được phần lớn các cam kết của mình, câu trả lời là ‘không.’” 

Trong một báo cáo mới, ông Ezell nêu chi tiết mức độ Trung Cộng “vẫn còn quá xa” mới thực hiện được các cam kết mà họ đã đưa ra như là các điều kiện để gia nhập WTO vào tháng 12/2001, bao gồm các lĩnh vực về “trợ cấp cho ngành công nghiệp, bảo hộ sở hữu trí tuệ nước ngoài, thúc đẩy liên doanh và chuyển giao công nghệ, đồng thời cung cấp khả năng tiếp cận thị trường cho các ngành dịch vụ.”

Theo WTO, các nền kinh tế gia nhập tổ chức này sẽ được hưởng lợi qua việc thực hiện “cải cách cơ cấu và tự do hóa thương mại” nhằm “giúp bảo đảm hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.” Năm 1999, Tổng thống đương thời Bill Clinton đã nói trong một cuộc họp báo với Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ rằng việc đưa Trung Quốc vào WTO “dựa trên các điều khoản thương mại công bằng” sẽ “giúp tiến xa trong việc tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các công ty [Hoa Kỳ] và công nhân [Hoa Kỳ] trong các thị trường của Trung Quốc” và “buộc Trung Quốc cam kết phải  tuân thủ các quy tắc của hệ thống thương mại quốc tế.”

Thay vào đó, Bắc Kinh đã tham gia vào “chơi trò mánh khóe với hệ thống thương mại toàn cầu trong hàng thập kỷ,” cho phép họ “tích lũy thặng dư thương mại khổng lồ và dự trữ ngoại tệ, những thứ mà họ sử dụng để theo đuổi các mục tiêu chính sách đối nội và ngoại giao,” ông Ezell viết. Các chính sách đối nội của Trung Cộng bao gồm cả việc bỏ tù hơn một triệu người Duy Ngô Nhĩ trong các trại giam giữ và đàn áp các quyền tự do dân sự còn lại ở Hồng Kông. Trên mặt trận chính sách ngoại giao, Trung Cộng đã đe dọa xâm lược và chinh phục Đài Loan dân chủ, đang mở rộng lãnh thổ của mình ở khu vực Biển Đông đang tranh chấp, cũng như đang tìm cách xây dựng tầm ảnh hưởng chính trị và kinh tế toàn cầu thông qua Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường, một dự án đầu tư cơ sở hạ tầng khổng lồ.

Vận động chính sách 

Trong những năm trước khi Trung Quốc gia nhập WTO, ông Doug Guthrie, lúc đó là phó giáo sư xã hội học tại Đại học New York, đã vận động cho Trung Quốc gia nhập WTO. Ông là một trong số hàng chục học giả đã ký tên vào một bức thư ngỏ ủng hộ việc Trung Quốc trở thành thành viên của WTO, được trình bày trong một phiên điều trần của Hạ viện Hoa Kỳ về chủ đề này vào tháng 05/2000.

Ông Guthrie hiện là giáo sư về lãnh đạo toàn cầu đồng thời là giám đốc Sáng kiến ​​Trung Quốc tại Trường Quản lý Toàn cầu Thunderbird của Đại học Tiểu bang Arizona. Ông nói với The Epoch Times rằng ông “nằm trong một nhóm các học giả tin rằng [kết nạp Trung Quốc vào WTO] là một việc làm đúng đắn.”

Ông nói, “Chúng tôi đã sẵn sàng nói chuyện với những người trên Đồi Capitol, và chúng tôi đã làm điều đó.”

Hai thập kỷ sau, ông Guthrie, cũng là người đồng sáng lập On Global Leadership, một công ty tư vấn tập trung vào Trung Quốc, vẫn không cảm thấy hối hận.

Ông nói: “Tôi chắc chắn sẽ ủng hộ việc Trung Quốc gia nhập WTO một lần nữa. Đối với tôi, việc Hoa Kỳ cần phải kiểm soát để giữ cho quốc gia đông dân nhất thế giới này… đứng ngoài hệ thống thương mại thế giới dường như là không đúng.”

Trước khi Trung Quốc gia nhập WTO, hàng năm Hoa Kỳ đều xem xét tình trạng thương mại tối huệ quốc (most favored nation, MFN) của Trung Quốc, tập trung vào các vấn đề như các vụ vi phạm nhân quyền có hệ thống của Trung Cộng. Quốc hội đã thông qua luật vào năm 2000 để khiến cho tình trạng này [trở thành] vĩnh viễn, được gọi là quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR), ngay sau khi Trung Quốc gia nhập WTO. Điều này đã xóa bỏ việc đánh giá MFN hàng năm của Quốc hội về Trung Quốc và giảm bớt sự nghi ngại về mặt chính trị cho các tập đoàn đa quốc gia đang cân nhắc việc mở rộng kinh doanh của họ sang Trung Quốc.

Quan niệm phổ biến lúc đó là việc cho phép Bắc Kinh gia nhập WTO sẽ dẫn đến tự do hóa kinh tế nhiều hơn, từ đó sẽ dẫn đến nhiều quyền tự do chính trị hơn ở đất nước do cộng sản cai trị này. Dự tính này đã không trở thành hiện thực.

Luật PNTR được thông qua vào năm 2000 tuyên bố rõ ràng rằng “Quốc hội lên án những vi phạm của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với nhân quyền, quyền tự do tôn giáo và quyền của người lao động,” và trích dẫn việc Trung Cộng “hành quyết người và tra tấn phi pháp, cưỡng bức phá thai và triệt sản, hạn chế việc tiếp cận Tây Tạng và Tân Cương, [và] trường kỳ thực hành ‘cải tạo thông qua lao động.’”

Đối với ông Guthrie, đây là một vấn đề nằm ngoài phạm vi của ông ấy.

Ông nói, “Tôi cố gắng tránh xa các chủ đề như nhân quyền.”

Người lao động Mỹ bị bỏ lại phía sau

Theo ông Guthrie, việc Trung Quốc gia nhập WTO đã có một tác động “đáng kể” đối với nền kinh tế Mỹ và người lao động Mỹ.

Điều đó có nghĩa là “dòng vốn từ những nơi như Hoa Kỳ, Âu Châu bắt đầu chảy sang Á Châu và đặc biệt là Trung Quốc,” ông nói. “Và vì vậy, nếu quý vị là người suy nghĩ thấu đáo về lao động và phát triển kinh tế, có thể việc Trung Quốc gia nhập WTO không phải là một điều tốt cho nền kinh tế Hoa Kỳ.”

Theo Hội đồng Quan hệ Ngoại giao (CFR), từ ​​năm 1999 đến năm 2011, Hoa Kỳ đã mất gần 6 triệu việc làm trong lĩnh vực sản xuất, trong khi một nghiên cứu do Đại học Chicago công bố đã quy kết rằng gần 1 triệu việc làm bị mất trong lĩnh vực sản xuất này và 2.4 triệu tổng số việc làm bị mất là do cạnh tranh với Trung Quốc. Trong khi đó, cũng theo báo cáo này của CFR, thì các tập đoàn đa quốc gia như Apple đã được hưởng lợi từ việc tăng cường tiếp cận thị trường Trung Quốc. Người tiêu dùng ở khu vực Đại Trung Hoa chiếm khoảng 15% doanh thu của Apple vào năm 2020.

Ông Guthrie, người từng là một giám đốc cao cấp làm việc tại trụ sở Trung Quốc của Apple từ năm 2014 đến năm 2019, đã đồng tình rằng các tập đoàn đa quốc gia lớn đã được hưởng lợi từ việc Trung Quốc trở thành thành viên của WTO, trong khi người lao động Hoa Kỳ thì không.

Ông nói, “Nếu quý vị nhìn vào thị trường Trung Quốc, các công ty như Tesla và Apple, thì thị trường Trung Quốc chỉ đứng sau Hoa Kỳ. Và do đó, tất cả họ đều đang thu lợi. Những người không được hưởng lợi là những người thuộc tầng lớp lao động từng có công việc của tầng lớp lao động ở Hoa Kỳ.”

‘Trung Quốc muốn có ưu thế tuyệt đối’

Ông Roger Garside, một cựu quan chức ngoại giao người Anh đồng thời là tác giả của cuốn “China Coup: The Great Leap to Freedom” (Cuộc Đảo Chính của Trung Quốc: Đại Nhảy Vọt Hướng Tới Tự Do), đã nói với The Epoch Times rằng ông nghĩ Trung Cộng chỉ đang tuân thủ các điều lệ của WTO “một cách có chọn lọc và nhìn chung là không có sự chân thành thiện chí.”

Ông nói, Hoa Kỳ và các nền dân chủ tự do khác, trong cách tiếp cận của họ với Trung Quốc, đã chọn lợi ích kinh tế ngắn hạn thay vì các nguyên tắc cơ bản như tự do.

Ông Garside cho biết trong một tuyên bố, “Các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đã lạc quan chứ không phải là ngây thơ khi tin tưởng hoặc hy vọng rằng việc gia nhập WTO của [Trung Quốc] sẽ mang lại những lợi ích chính trị. Đã quá lâu rồi, Hoa Kỳ nhắm mắt làm ngơ trước phương diện bất lợi này, không cân nhắc được lợi hại giữa việc bảo vệ tự do và việc thúc đẩy các lợi ích kinh tế ngắn hạn của họ. Về phương diện này, các nhà lãnh đạo của Ý, Đức, Pháp và Anh Quốc đã [làm] dở tệ giống như người Mỹ hoặc thậm chí còn tệ hơn, và hiện vẫn miễn cưỡng thừa nhận mối đe dọa chính trị này.”

Ông Ezell nói rằng Bắc Kinh đã lợi dụng tư cách thành viên WTO của mình để có được [cơ hội] tiếp cận thị trường của các quốc gia khác nhiều hơn và chẳng hề có qua có lại. Để giải quyết những hành vi lạm dụng này, ông đã đưa ra các khuyến nghị về chính sách trong báo cáo của mình, bao gồm việc thu hồi trạng thái PNTR của Trung Quốc và đàm phán lại biểu thuế suất đối với hàng hóa và dịch vụ của Trung Quốc tại WTO.

Theo ông Ezell, tư cách thành viên WTO đã giúp Trung Cộng tiến tới một trong những mục tiêu hàng đầu của họ: về phương diện công nghệ tiên tiến đạt được ưu thế vượt qua Hoa Kỳ.

Ông Garside bày tỏ, “Trung Quốc muốn có ưu thế tuyệt đối trong tất cả các ngành công nghệ tiên tiến và họ muốn đạt được điều đó … bằng cách hạn chế quyền tiếp cận của các công ty khác vào thị trường của họ, nhưng sau đó … cho các công ty của họ khả năng tiến ra thị trường quốc tế trên một cơ sở không công bằng, và họ đã rất thành công trong việc đó.”

Ông Garside nói rằng Trung Cộng sẽ tiếp tục tận dụng sức mạnh kinh tế ngày càng lớn của mình để thúc đẩy thế giới đi theo một phương hướng toàn trị.

Ông giãi bày, “Như dự đoán của tôi, thì [Trung Cộng] sử dụng quyền lực của họ để áp đặt chế độ độc tài toàn trị ở càng nhiều nơi trên thế giới thì càng tốt, xóa bỏ tự do, nền dân chủ và nhân quyền như cách họ đang làm ở Hồng Kông. Đó là những gì các chế độ độc tài toàn trị làm. Thật khó có thể đoán được họ có thể thống trị bao nhiêu phần của thế giới đến mức độ này, bởi vì điều này sẽ phụ thuộc vào cách Trung Cộng đạt được địa vị thống trị đó như thế nào.

Nhưng sự việc không nhất định sẽ diễn tiến theo hướng này, ông Garside nói. Trong cuốn sách của mình, “Cuộc đảo chính của Trung Quốc,” ông Garside phác thảo cách Hoa Kỳ và các nền dân chủ tự do khác có thể sử dụng các công cụ kinh tế của họ để gây áp lực lên Trung Cộng và làm cho những người ở bên trong Trung Quốc muốn thay đổi chính trị có khả năng đạt được điều đó.

Ông cho biết: “Các tác động chính trị [của việc Trung Quốc gia nhập WTO] không phải đều là tiêu cực, bởi vì sự mở cửa của Trung Quốc đã tạo ra một tầng lớp sở hữu bất động sản ngày càng gia tăng và họ sẽ có cảm giác ở trong chính trị. Nhiều nhà bình luận nói và viết như thể câu chuyện này đã kết thúc. Chưa đâu. Còn lâu mới kết thúc.”

Ông Adam Michael Molon là một nhà văn kiêm ký giả người Mỹ. Ông có bằng thạc sĩ báo chí của Đại học Columbia và bằng đại học về tài chính và ngôn ngữ Trung Quốc của Đại học Indiana-Bloomington.

Hồng Ân biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc từ The Epoch Times

Xem thêm:

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn