Năm 1782, ngài John Jay du ngoạn đến Paris cùng với tổng thống Benjamin Franklin và John Adams để thảo luận về các điều khoản hòa bình với người Anh. Ông đã chiến đấu để người Anh công nhận Hoa Kỳ và cho toàn bộ vùng đất phía đông Mississippi. Những đóng góp của ông chỉ là một phần nhỏ trong những đóng góp để thiết lập, củng cố và bảo đảm sự an toàn của quốc gia non trẻ.

Khi ở Paris, cùng với sự giúp đỡ của vợ, ông kết bạn với Hầu tước de Lafayette, nhà thơ Angelica Schuyler, và những nhân vật quan trọng khác sống ở Pháp. Những mối quan hệ này đóng vai trò then chốt đối với mối liên kết giữa Hoa Kỳ và Pháp, đồng minh duy nhất của đất nước non trẻ trong cuộc Cách mạng. Ngài Jay đã ngăn cản Pháp và Anh tiến hành các cuộc đàm phán bí mật của riêng họ, điều có thể đặt nước Mỹ non trẻ vào tình thế bất lợi lớn. Sau cuộc đàm phán ở Paris, Jay và gia đình trở về New York, nơi ông đã chung tay xây dựng chính phủ Hoa Kỳ.

Di sản của ngài Jay để lại cho nước Mỹ

Ba thế hệ gia đình của ngài Jay đại diện cho những lý tưởng tinh hoa của nước Mỹ, không ai hơn gia đình John. John Jay sinh ra ở New York vào năm 1745. Ông nội của ông đã tìm kiếm tự do cho mình sau khi gặp cuộc đàn áp tín ngưỡng tại Pháp, và ông đã lập nghiệp với tư cách là một thương gia. Cha của Jay đã tiếp tục công việc buôn bán, gây dựng sự giàu có và chu cấp cho gia đình, thành công đạt được giấc mơ Mỹ. John Jay đã tiếp tục di sản này qua nhiều năm cống hiến cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ non trẻ.

Ông John Jay lớn lên ở New York và theo học đại học King, nay là Đại học Columbia. Ông tốt nghiệp cử nhân luật, nhưng đã không hành nghề luật trong thời gian dài. Năm 1774, ông được bầu làm đại diện cho New York trong Quốc hội Lục địa đầu tiên, cùng năm đó ông kết hôn với phu nhân Sarah Livingston. Giống như tổng thống Benjamin Franklin, ông đã nỗ lực đấu tranh vì hòa bình và đàm phán với Vương quốc Anh. Tuy nhiên, khi chiến tranh xảy ra, John Jay  đã chọn lòng trung thành với lợi ích của Hoa Kỳ và cống hiến hết mình cho sự tự do của đất nước này. Khởi đầu cuộc Cách mạng, ông là chủ tịch của Quốc hội Lục địa thứ hai, chính phủ lâm thời của 13 thuộc địa.

Là một nhà ngoại giao

Năm 1779, John Jay cùng vợ mình đã thực hiện một cuộc hành trình đầy nguy hiểm đến Tây Ban Nha. Những cơn bão dữ kinh hoàng khiến con tàu của họ phải dừng lại ở Caribê để sửa chữa; sau đó, một con tàu của Anh đã cố gắng đuổi theo, bắt cóc Jay khi họ đến gần bờ biển Tây Ban Nha. Ông đã được chọn làm nhà ngoại giao đến Tây Ban Nha để tìm kiếm viện trợ tài chính cho Chiến tranh Cách mạng. Tuy nhiên, ông đã không mấy thành công trong việc thuyết phục sự ủng hộ từ chính phủ Tây Ban Nha, một chế độ quân chủ không muốn ủng hộ cách mạng, điều này cuối cùng có thể bị phản đối. Tình hình ở Mỹ tồi tệ đến mức nếu John Jay không giành được sự ủng hộ của Tây Ban Nha đồng nghĩa với việc ông không được trả lương. Tuy nhiên, ông không phàn nàn và vẫn tận tâm với công việc của mình, chỉ đề nghị một khoản phí đủ để ông và vợ được sống trong căn hộ khiêm tốn ở Madrid.

Năm 1794, ngài Jay được cử trở lại Đại Tây Dương để đàm phán với người Anh một lần nữa. Họ đã không duy trì các thỏa thuận được thực hiện vào cuối cuộc Cách mạng, chẳng hạn như dỡ bỏ các căn cứ ở Bắc Mỹ tại Hoa Kỳ và ngừng ngăn chặn xuất khẩu hàng hóa của Mỹ. Hải quân Hoàng gia Anh cũng đã bắt và buộc nhiều thương nhân Mỹ phải phục vụ trên biển. Người dân ở cả hai bờ Đại Tây Dương đã sẵn sàng chiến đấu để giải quyết các cuộc tranh luận này. Hiệp ước Jay, một cách gọi thân mật, chỉ giải quyết một số vấn đề trong số đó. Ông đã không thành công trong việc ngăn quân Anh gây ấn tượng với các thủy thủ Mỹ và thậm chí còn cho phép người Anh bắt giữ hàng hóa  của Pháp ra khỏi tàu Mỹ mà không phải bồi thường. Do đó, hiệp ước không được công chúng đồng thuận, nhiều người tin rằng John Jay đã quá khoan dung với quân Anh.

Sau đó, uy tín của ông sụt giảm. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán của ông, được hỗ trợ bởi tổng thống George Washington, đã xoa dịu tạm thời với người Anh và cho phép Hoa Kỳ có thời gian phục hồi sau Chiến tranh Cách mạng cũng như khẳng định vị thế của mình trên thế giới. Khoảng thời gian quý giá này cho phép quốc gia chuẩn bị sẵn sàng cho Chiến tranh năm 1812, khi những tranh chấp chưa được giải quyết với Vương quốc Anh một lần nữa sẽ được giải quyết bằng bạo lực.

Đặt nền tảng cho Hiến pháp và Quyền tư pháp

Giữa chuyến công du ở nước ngoài, vào năm 1787, ngài Jay đã viết 5 trong số các tài liệu của Liên bang ủng hộ việc phê chuẩn Hiến pháp. Bốn bài viết đầu tiên mà ông đóng góp đều nhắc đến cùng một chủ đề: mối nguy hiểm từ thế lực nước ngoài và ảnh hưởng của nó. Trong những bài viết này, John Jay đã lập luận chống lại những người Mỹ tìm cách chia cắt Hoa Kỳ thành các quốc gia riêng biệt vì họ tin rằng các Điều khoản của Liên bang không có hiệu quả. Ông quả quyết rằng làm như vậy là lãng phí những sinh mạng đã hy sinh khi chiến đấu cho tự do trong Cách mạng. Với kinh nghiệm là một nhà ngoại giao, Jay đã viết về sự yếu kém của từng quốc gia trước các cuộc tấn công và mối quan hệ với nước ngoài. Trong suy nghĩ của ông, một quốc gia thống nhất là cách duy nhất để đảm bảo đủ sức mạnh chống chọi với các chế độ quân chủ lâu đời của Âu Châu.

Ngài John Jay tiếp tục phục vụ đất nước với tư cách là chánh án đầu tiên của Tòa án tối cao. Năm 1789, ông được ngài George Washington bổ nhiệm vào vị trí đó, tuy chỉ xét xử bốn vụ án, nhưng ông đã đặt ra nhiều tiền lệ cho Tòa án Tối cao. Ví dụ, ông cho phép các thư ký tòa án vòng ngoài các thư ký Tòa án Tối cao được viết các lỗi sai. Ông từ chối cung cấp bất kỳ lời khuyên chính thức nào cho các thành viên của nhánh hành pháp hoặc lập pháp, củng cố sự phân tách quyền lực trong chính phủ. Ngoài ra, ông cũng thúc đẩy việc xem xét tư pháp, đó là khả năng của tòa án để đánh giá liệu một chính sách hoặc hành động của chính phủ có phù hợp với Hiến pháp hay không. Sau đó, bất kỳ hành động nào được tuyên bố là vi hiến đều có thể bị vô hiệu hóa và sửa chữa. Trường hợp tương tự mà John Jay thiết lập cơ quan xét xử tư pháp, như việc Chisolm kiện Georgia, cũng xác định rằng các trường hợp chống lại các bang riêng lẻ của công dân phải tuân theo quyền tài phán của liên bang.

Ngài Jay đã không thiết lập ý tưởng rằng các thẩm phán của Tòa án Tối cao sẽ phục vụ các nhiệm kỳ suốt đời. Mặc cho tuyên bố này có thể được tìm thấy trong Hiến pháp, Jay đã từ chức vào năm 1795, chỉ sau sáu năm ngồi trên ghế dự bị, để trở thành thống đốc của New York. Ông được bầu làm thống đốc khi đang ở ngoài nước, đang đàm phán ở Luân Đôn. Khi ngài John Adams được bầu làm tổng thống, ông một lần nữa đề nghị John Jay làm chánh án, nhưng ông đã từ chối. Giống như ngài George Washington, ông không mong muốn hoặc cố gắng nắm giữ quyền lực. Khi ở văn phòng New York, John Jay đã bãi bỏ chế độ nô lệ trong tiểu bang. Sau này trong cuộc đời của mình, ông đã tranh luận chống lại chế độ nô lệ ở bang Missouri mới hoặc bất kỳ lãnh thổ nào khác xin trở thành bang ..

Năm 1801, John Jay nghỉ hưu và chuyển đến một trang trại với gia đình. Vợ ông qua đời vào năm sau, và ông đã dành những ngày còn lại của mình để tận hưởng cuộc sống nông thôn với con cháu cho đến khi qua đời vào năm 1829. Ông muốn tổ chức một đám tang đơn giản. John Jay mong muốn các con của mình cho 200 đô la (khoảng 5.000 đô la ngày nay) cho một góa phụ hoặc trẻ mồ côi xứng đáng. Mặc dù ông không phải là Nhà sáng lập nổi tiếng nhất, nhưng một cuộc đời năng nổ và cống hiến cho đất nước của John Jay được ghi nhớ thông qua Đại học Tư pháp Hình sự John Jay, Trường Trung học John Jay và khu nội trú của Đại học Columbia mang tên ông.


Sydney Slack
BTV Epoch Times Tiếng Anh

Như Ý biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc tại The Epoch Times

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn