Nguyên văn

唐劉晏,方七歲,
舉神童,作正字。
彼雖幼,身己仕,
爾幼學,勉而致。
有為者,亦若是。
犬守夜,雞司晨,
苟不學,曷為人。
蠶吐絲,蜂釀蜜,
人不學,不如物。

Âm Hán Việt

Đường Lưu Yến, Phương thất tuế,
Cử thần đồng, Tác chính tự.
Bỉ tuy ấu, Thân kỷ sĩ,
Nhĩ ấu học, Miễn nhi trí.
Hữu vi giả, Diệc nhược thị.
Khuyển thủ dạ, Kê ti thần,
Cẩu bất học, Hạt vi nhân.
Tàm thổ ti, Phong nhưỡng mật,
Nhân bất học, Bất như vật.

Tạm dịch

Lưu Yến triều Đường, mới có bảy tuổi,
Đắc cử thần đồng, đảm nhiệm chính tự.
Ông tuy nhỏ tuổi, thân đã làm quan,
Bạn mới nhập học, gắng mà đạt đến.
Người chịu nỗ lực, cũng giống như họ.
Chó canh giữ đêm, gà phụ trách gáy sáng,
Nếu như không học, làm người thế nào.
Con tằm nhả tơ, con ong ủ mật,
Con người không học, không bằng con vật.

Từ vựng

(1) Đường (唐): triều Đường.
(2) Lưu Yến (劉晏): tên người.
(3) Phương (方): mới.
(4) Cử (舉): đề cử.
(5) Thần đồng (神童): một khoa thi trong khoa cử thời Đường. Nhà Đường thiết lập một khoa cho trẻ em nam, người tham gia thi được gọi là ứng thí thần đồng.
(6) Tác (作): giống như “tố” 做 có nghĩa là làm, đảm nhiệm.
(7) Chính tự (正字): chức quan phụ trách chỉnh lý văn tự, hiệu đính điển tịch.
(8) thân (身): bản thân
(9) sĩ (仕): làm quan.
(10) trí (致): đạt đến.
(11) hữu vi giả (有為者): người có năng lực làm được việc, có thành tựu, chịu khó nỗ lực.
(12) diệc (亦): cũng.
(13) nhược thị (若是): giống như họ.
(14) thủ dạ (守夜): canh giữ ban đêm.
(15) ti (司): chủ quản, phụ trách việc, quản lý.
(16) cẩu (苟): nếu như.
(17) hạt (曷): gì, thế nào, sao
(18) nhưỡng (釀): ủ, dần dần gây thành.
(19) vật (物): con vật, động vật.

Dịch nghĩa tham khảo

Lưu Yến triều Đường, mới bảy tuổi đã được đề cử tham gia cuộc thi thần đồng, sau đó làm quan Chính tự. Tuy tuổi còn rất nhỏ nhưng ông đã làm quan. Các bạn là người mới nhập học, chỉ cần chăm chỉ nỗ lực là có thể làm được. Những người có triển vọng, chịu nỗ lực cũng có thể giống như họ.

Chó sẽ thay người canh cửa vào ban đêm. Gà gáy báo hiệu sáng sớm, nhắc nhở mọi người trời đã sáng; những động vật này đều có thể hết lòng với chức trách của mình, nếu như chúng ta không thể dụng tâm học tập, chỉ mơ mơ màng màng sống qua ngày, thì đâu còn có tư cách gì để làm người?

Tằm biết nhả tơ, cung cấp cho nhân loại nguyên liệu làm quần áo, ong biết thu thập hoa ủ mật, cấp cho nhân loại thức ăn; con người nếu như không chịu nỗ lực học tập, chẳng phải ngay cả so với những động vật này cũng không bằng sao?

Đọc sách luận bút

Lưu Yến được viết vào “Tam Tự Kinh”, đồng thời xuất hiện trong những bài cuối, cũng là để khuyên trẻ em nên chăm chỉ đọc sách, không chỉ vì ông cần cù đọc sách từ nhỏ để trở thành thần đồng, mà còn là tấm gương cho trẻ em đi học noi theo. Hơn nữa còn một lý do khác, đó là ông là nhân vật điển hình trong việc đã đạt được lý tưởng cứu đời của người đọc sách thời xưa. Thời xưa đọc sách có thể làm quan, chuyện này không sai, nhưng mục đích làm quan không phải là vì mình, mà là vì giúp Vua thực hiện Vương đạo, tạo phúc cho quốc gia bách tính, tuyệt đối không phải là vì vinh quang của cá nhân, đây là lý tưởng và hoài bão cuối cùng của các sĩ phu sau khi đọc sách minh tỏ đạo lý. Lưu Yến chính là tấm gương của mọi người.

Lưu Yến là người Nam Hoa, Tào Châu (nay là Đông Minh tỉnh Sơn Đông), tự là Sĩ An. Ông trải qua bốn triều đại gồm Đường Huyền Tông, Túc Tông, Đại Tông, Đức Tông, làm quan đến chức Tể tướng. Ông phụ trách quản lý tài chính mấy chục năm, bởi vì ông làm việc có hiệu quả cao, thành tích lớn, làm quan thanh liêm, yêu dân, chuyên cần trong công việc, được ca ngợi là nhà quản lý tài chính nổi tiếng “chi tiêu rộng rãi với quân đội, quốc gia, nhưng chưa từng hà khắc với dân”. Vào năm Kiến Trung thứ nhất (780), ông bị Dương Viêm hãm hại, khi tịch biên tài sản thì trong nhà ông chỉ có hai xe sách và vài thạch lúa gạo mà thôi.

Ông làm đại thần phụ trách tài chính của quốc gia, có thể dốc hết sức mình phát triển kinh tế công thương nghiệp để kinh bang tế thế, khiến cho quốc gia thu được một lượng thuế khổng lồ mà lại không làm liên lụy đến nông dân, tài chính quốc gia dồi dào, bản thân lại không có ham muốn riêng tư, có thể từ đầu đến cuối dâng hiến công sức một cách vô tư, liêm khiết thanh bạch. Ông là một người thực sự hiểu được đạo lý của việc đọc sách là để làm một vị quan tốt phân ưu giải nạn cho nước cho dân.

Những động vật được nói đến ở phần cuối của bài này đều có bổn phận và trách nhiệm của mình, chính là để chỉ ra rằng làm người cũng giống như vậy, có bổn phận làm người. Người đọc sách là vì muốn hiểu được trách nhiệm và nghĩa vụ làm người, như vậy cho dù tương lai ở chức vị nào hay chỉ là một người bình thường thì đều có thể hết sức làm tròn bổn phận làm người. Nếu không, thì sẽ chẳng bằng cả động vật. Lưu Yến có thể làm được đến mức “cả đời không phải hổ thẹn”, mọi người chỉ cần nỗ lực chăm học, cũng có thể làm được như vậy. Bài này một lần nữa động viên trẻ em đi học rằng ngay từ nhỏ nên chăm học và chịu khó đọc sách.

Câu chuyện “Lưu Yến thiên tư thông minh”

Lưu Yến là người triều Đường, mặc dù diện mạo không nổi bật nhưng lại là một thần đồng. Lúc bảy tuổi, khi Đường Huyền Tông đến Thái Sơn để tế trời, Lưu Yến dâng lên một bài văn có tên là “Đông Phong Tụng”. Huyền Tông sau khi xem rất tán thưởng, liền triệu kiến ông. Huyền Tông thấy ông còn nhỏ tuổi, hoài nghi “Đông Phong Tụng” không phải do ông viết, thế là lệnh cho Tể tướng Trương Thuyết ra đề kiểm tra ông. Sau khi Trương Thuyết xem xong bài thi của Lưu Yến, phát hiện thiên tư của ông quả thực thông minh, không hổ danh là một vị thần đồng. Do đó Huyền Tông phong cho Lưu Yến làm quan “Chính tự”, phụ trách chỉnh lý văn tự, hiệu đính điển tịch.

Có một lần, Huyền Tông nói với Lưu Yến: “Ngươi là quan Chính tự, rốt cuộc có thể chính được mấy chữ nào?” Lưu Yến nghe xong, lập tức quỳ trên mặt đất nói: “Chữ của thiên hạ thần đều có thể chính, chỉ có chữ “Bằng” (朋, bằng trong bằng hữu) là thần không thể chính.”

Nguyên do lúc ấy trong triều đình có nhiều người cấu kết bè đảng làm chuyện xấu, mọi người gọi nhóm người làm xằng bậy này là “Bằng bỉ vi gian” (kéo bè kéo cánh làm việc xấu). Lưu Yến nói không thể chính chữ “Bằng”, chính là chỉ chuyện này.

Lưu Yến tuổi tuy nhỏ nhưng đã minh tỏ đạo lý, biết lo lắng vì quốc gia, chán ghét việc kết bè kết cánh, cho nên khi lớn lên có thành tựu phi phàm, làm Tể tướng triều Đường, là một người yêu dân như con, là vị quan tốt tận tụy có trách nhiệm.

Câu chuyện “Phạm Trọng Yêm chăm học”

Triều Tống có một vị Tể tướng tên là Phạm Trọng Yêm, ông chẳng những là một nhà văn, mà ở phương diện chính trị và quân sự cũng rất có thành tựu. Nhưng thành công của ông cũng không phải chỉ dựa vào vận khí và thiên phú, mà bởi vì ông rất ham học và không ngừng nỗ lực mới có được.

Lúc Phạm Trọng Yêm hai tuổi thì cha ông qua đời. Bởi vì nhà rất nghèo, cho nên mẹ ông đành phải mang theo ông tái giá vào nhà họ Chu. Sau khi lớn lên, bởi vì khuyên răn người em cùng mẹ khác cha không nên tùy tiện tiêu tiền nhưng lại bị giễu cợt rằng mình không phải là con cái nhà họ Chu, nên sau khi biết được thân thế của mình, ông liền từ biệt mẹ tự mình vào học xá Nam Kinh, đi theo một vị học vấn cao là Thích Đồng Văn để học.

Ông trải qua cuộc sống nghèo khổ, không kể ngày hay đêm, một mực chịu khổ đọc sách, chưa từng cởi y phục đi ngủ, thường thường đọc sách đến khuya mới nghỉ ngơi. Có đôi khi đọc sách mệt mỏi bèn giội gáo nước lạnh lên đầu, khi tỉnh táo rồi lại tiếp tục đọc sách. Lúc không có tiền mua gạo, ông nấu cháo để ăn. Đợi bát cháo nguội, đông lại, ông chia thành bốn miếng, buổi sáng ăn hai miếng, ban đêm ăn hai miếng. Lại đem dưa muối cắt thành mười mấy khúc để ăn, cứ như vậy lấp đầy bụng.

Có một lần đoàn xe của Hoàng đế đi ngang qua gần đó, các bạn học không lo đọc sách, đều tranh nhau ra ngoài xem, duy chỉ có Phạm Trọng Yêm đóng cửa không ra, vẫn vùi đầu đọc sách. Có một bạn học đặc biệt chạy tới gọi ông: “Nhanh đi xem, đây là cơ hội ngàn năm khó gặp, tuyệt đối không nên bỏ lỡ!” Nhưng Phạm Trọng Yêm chỉ thuận miệng nói: “Không vội! Không vội! Tương lai gặp lại cũng không muộn”, ông không ngẩng đầu lên vẫn tiếp tục đọc sách. Quả nhiên, đến năm sau ông thi đậu tiến sĩ, được gặp Hoàng đế.

Bởi vì Phạm Trọng Yêm khắc khổ chăm học nhiều năm, nghiên cứu Ngũ kinh đến mức phi thường thấu đáo, cuối cùng đã trở thành một người có học vấn rất cao, đến triều vua Tống Nhân Tông, ông làm tới chức Tể tướng.

(Còn tiếp)


Bài viết đăng lại từ Chánh Kiến Việt ngữ

Quý vị tham khảo bản gốc từ zhengjian.org


Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn