Ông Elon Musk đã phơi bày điều chúng ta nghi ngờ bấy lâu — nhưng vấn đề còn tệ hơn chúng ta tưởng

Trước khi qua đời, ông Paul Volcker, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang thời cựu Tổng thống Reagan, người gần như đã cống hiến cả cuộc đời mình cho hoạt động công ích, đã than thở về việc người Mỹ mất niềm tin vào các cơ quan chính phủ.

Trước những tiết lộ gần đây về việc các lợi ích đảng phái đã xâm nhập vào những tổ chức đó như thế nào — cho dù đó là IRS, FBI, CIA, hay kể cả là CDC — và cách truyền thông đã thông đồng với các cơ quan đó để lừa gạt người dân Mỹ như thế nào, tôi không khỏi nghĩ rằng, cả ông Paul Volcker cũng sẽ tức giận như tôi trước những gì mà những tổ chức từng được kính trọng đó cũng như giới truyền thông đã biến thành. Các thể chế này đã được các Tổ phụ Lập quốc trù tính để lẽ ra trở thành những định chế ủng hộ và bảo vệ người dân Mỹ.

Mối nguy hại của việc chính phủ hợp tác với doanh nghiệp

“Chủ nghĩa xã hội Quốc gia”, hệ tư tưởng làm động lực cho Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa, hay Đức Quốc Xã, chưa bao giờ thực sự là “xã hội chủ nghĩa” theo đúng nghĩa về mặt kỹ thuật. Mặc dù Đức Quốc Xã đã trộn lẫn chủ nghĩa bài Do Thái, chủ nghĩa toàn trị, và chủ nghĩa phát xít vào cùng nhau thành một mớ hổ lốn độc hại, nhưng đảng này chưa bao giờ nắm quyền sở hữu công đối với các công ty Đức và phương tiện sản xuất, một yếu tố căn bản của chủ nghĩa xã hội.

Thay vào đó, các tập đoàn đáng kính của Đức và các lãnh đạo của những công ty này sẵn sàng thực hiện nỗ lực của Đức Quốc Xã, đến mức sẵn lòng làm biến tính mùi khó chịu của Zyklon, một loại thuốc diệt chuột phổ biến dựa trên xyanua. Phiên bản biến tính của loại thuốc này, Zyklon B, đã tạo ra thứ khói hydro-xyanua sát nhân mà Đức Quốc Xã sử dụng trong các “vòi hoa sen” giả để sát hại hàng triệu người Do Thái, người cộng sản, Roma, người khuyết tật, các đối thủ chính trị, và những người khác mà đảng này xem là “không mong muốn.”

Tôi nêu lên lịch sử xấu xa của Đức Quốc Xã bởi vì lịch sử này minh họa, ở mức cực đoan, về sự nguy hiểm của các tập đoàn cố tình hợp tác với các chính phủ khi các chính phủ này theo đuổi các chính sách trái với nhân quyền. Nhưng ở Mỹ chúng ta đang thấy rằng, sẽ có ngày càng nhiều tập đoàn hơn thực hiện nỗ lực của một chính phủ thường đi quá xa với chủ ý hạn chế các quyền tự do cá nhân.

Quyền căn bản

Hiến Pháp định ra một số quyền được liệt kê, như quyền tự do ngôn luận, quyền giữ và mang vũ khí, và quyền được xét xử trước bồi thẩm đoàn. Tu chính án thứ Chín, thường bị bỏ qua, nêu rằng, “Việc liệt kê một số quyền nhất định trong Hiến Pháp, sẽ không được hiểu là phủ nhận hoặc hạ thấp những quyền khác mà người dân nắm giữ.” Vì vậy, quyền của quý vị trong việc vay tiền, tham gia kinh doanh, bảo vệ gia đình, khởi kiện hoặc tự bảo vệ bản thân trong một vụ kiện — chỉ là một vài ví dụ nêu ra về các quyền được Hiến Pháp bảo vệ nhưng không được liệt kê cụ thể bên trong văn kiện này — nên là rõ ràng.

Nhưng chính phủ tiếp tục xâm phạm tới kể cả những quyền đã được liệt kê, sử dụng các tập đoàn làm bộ hạ của họ. Hãy xem xét những ví dụ này khi mà chính phủ, sử dụng các tập đoàn thuộc cấp xun xoe, đã xâm phạm quyền mang vũ khí, quyền xét xử trước bồi thẩm đoàn, và quyền tự do ngôn luận:

  • Chẳng hạn, các nhà quản lý quỹ hưu trí của các tiểu bang thiên tả như ông Brad Lander của thành phố New York đã gây áp lực buộc các công ty Visa, MasterCard, và American Express phải tạo mã bán hàng riêng cho súng và đạn dược để phân biệt các mặt hàng này với những mặt hàng như hàng thể thao. Các công ty thẻ tín dụng này đã đáp ứng các yêu cầu cấp tiến này để tạo ra những gì trên thực tế có thể được xem như một cơ quan ghi danh súng quốc gia về các loại súng được mua gần đây mà các chính phủ có thể ban hành trát lệnh để yêu cầu cung cấp thông tin. Chỉ các giao dịch mua súng và đạn dược bằng tiền mặt mới là ngoại lệ.
  • Cậu thanh niên Kyle Rittenhouse trẻ tuổi, trong vụ sát hại hai người và bắn một người khác trong lúc diễn ra loạt biểu tình về cái chết của người đàn ông người Mỹ gốc Phi Châu George Floyd, đã được bồi thẩm đoàn tha bổng tội sát nhân vì xác định hành vi đó là tự vệ, nhưng lại bị một công tố viên Đảng Dân Chủ đầy tham vọng chính trị buộc tội. Giới truyền thông đã cổ vũ cho vị công tố viên này. Việc đưa tin thiên vị chống lại anh Rittenhouse phổ biến đến nỗi, những thông tin này có thể đầu độc nhóm bồi thẩm đoàn, tước đoạt quyền được xét xử trước bồi thẩm đoàn của anh. Ngay cả sau khi anh đã được tha bổng, Rittenhouse được cho là đã nói rằng anh bị một người dẫn chương trình truyền hình trò chuyện buổi sớm nổi tiếng gọi là một “kẻ sát nhân.”
  • Ông Joe Rogan, một người dẫn chương trình podcast đôi khi gây tranh cãi, và khách mời của ông, Tiến sĩ Robert Malone, đã thách thức luận điệu của chính phủ về COVID-19 và việc chích ngừa, trước sự bực tức của các nhà chức trách y tế cộng đồng như ông Anthony Fauci. Trong số nhiều điều khác, ông Rogan cho biết những người trẻ tuổi không cần phải chích ngừa. Bản thân ông Malone đã bị cấm khỏi Twitter. Trong vòng vài tuần, ai đó đã mô tả ông ấy là “nhà nghiên cứu đưa ra thông tin sai lệch,” NPR đã trích dẫn ông nói rằng “việc giám sát các podcast là quá chậm.” Ông Rogan sau đó đã đưa ra một lời xin lỗi để nền tảng chạy podcast của ông, Spotify, cho phép ông được tiếp tục [đăng tải nội dung trở lại] trên nền tảng này.

Twitter và sự tiếp quản của ông Musk

Ông Elon Musk đã tiếp quản Twitter hôm 28/10 và sự hỗn loạn dường như đã ngự trị kể từ đó. Nhiều người đã bị sa thải và sau đó được tuyển dụng lại; cố vấn pháp lý đã bị lờ đi và sau đó là được lắng nghe và rồi kế tiếp lại bị sa thải. Tất cả các cuộc tiếp quản đều liên quan đến một số mức độ hỗn loạn hành chính, đặc biệt là khi văn hóa doanh nghiệp thay đổi. Trong cuộc tiếp quản của ông Musk, thì sự xung đột văn hóa là rất rõ ràng.

Một người chủ sở hữu mới nói rằng, “Tự do ngôn luận là nền tảng của một nền dân chủ đang hoạt động, và Twitter là quảng trường thành phố kỹ thuật số, nơi các vấn đề quan trọng đối với tương lai của nhân loại được tranh luận” trong một thông cáo báo chí thông báo về giao dịch mua lại, thì là xung đột hoàn toàn với đội ngũ điều hành và “những người điều tiết” (“moderators”) thất thường và thiên tả của Twitter.

Rốt cuộc, nhóm điều hành đó đã cấm nhiều người, trong đó có cựu Tổng thống Hoa Kỳ và các thành viên Quốc hội thuộc Đảng Cộng Hòa, vì những lý do chỉ có họ biết nhưng chủ yếu là do vi phạm Điều khoản Dịch vụ của Twitter về cấm ngôn từ kích động thù địch. Trong khi đó, các dòng tweet đầy thù hận và bài Do Thái có mục đích ủng hộ Lãnh tụ Tối cao của Iran, với gần một triệu người theo dõi, kêu gọi “tiêu diệt” Israel, thì đã tiếp diễn mà không bị kiềm chế trong nhiều năm.

Các công ty Mỹ trong danh sách Fortune 500 rút khỏi Twitter

Ngay sau khi việc tiếp quản của ông Musk được công bố, ông Yoel Roth, người đã “chọn rời bỏ” vị trí đứng đầu bộ phận “Tin cậy và An toàn” của Twitter, đã viết một bài bình luận trên tờ The New York Times mô tả các phương thức mà các nhà quảng cáo, cơ quan quản lý ở Âu Châu, và các cửa hàng ứng dụng như Google và Apple, có thể tiếp tục ép buộc ông Musk gắn với các tiêu chuẩn về “tin cậy và an toàn” của ban quản lý cũ.

Các công ty trong Fortune 500 đã phục tùng trong vòng vài ngày. General Motors, nhà sản xuất xe hơi đã cam kết “chỉ” sản xuất xe điện vào năm 2030 và có lẽ tồn tại được là nhờ gói cứu trợ của chính phủ Tổng thống Barack Obama, đã sớm tuân theo và rút quảng cáo của mình trên nền tảng này. Người ta có thể tranh cãi rằng GM, với tư cách là đối thủ cạnh tranh trực tiếp với Tesla của ông Musk, khó có khả năng muốn làm giàu cho công ty kế ngôi — giống như việc Pepsi quảng cáo trong cuộc đua Coca-Cola 600 NASCAR — mặc dù thoạt nhìn, việc đó dường như là thứ yếu so với việc GM tuân theo nghị trình chính trị của chính phủ.

Nhưng không có bất kỳ lý do rõ ràng nào, những công ty khác đã chỉ đơn giản là làm như vậy. Ví dụ, CBS News đã bỏ tài khoản Twitter của mình, sau đó khôi phục lại. Những công ty khác, như Chipotle, nói với Bloomberg rằng họ bỏ quảng cáo trên Twitter để “hiểu rõ hơn về định hướng của nền tảng này dưới sự lãnh đạo mới.”

Theo đánh giá của Media Matters, nhiều thương hiệu nổi tiếng khác như Coca-Cola, Kellogg’s, Dell, Nestle, và Whole Foods cũng đã ngừng mua quảng cáo [trên Twitter].

Tại sao việc này lại nguy hiểm

Những tiết lộ của ông Matt Taibbi và ông Bari Weiss trong những ngày gần đây cho thấy Twitter (và hầu hết các phương tiện truyền thông dòng chính) đã thông đồng với một cố gắng của FBI và các quan chức Đảng Dân Chủ trong việc chôn vùi câu chuyện về chiếc máy điện toán xách tay của ông Hunter Biden và gây ảnh hưởng đến kết quả của cuộc bầu cử tổng thống năm 2020 để tạo lợi thế cho ông Joe Biden.

FBI đã duy trì việc theo dõi iPhone của ông Rudy Giuliani, luật sư của cựu Tổng thống Trump, có lẽ là từ năm 2019 theo một trát lệnh phản gián. Việc theo dõi đó có thể đã giúp FBI “biết trước” rằng ông Giuliani đang làm việc với ký giả chuyên mục Miranda Devine của New York Post để phơi bày câu chuyện về những nội dung bất chính trong máy điện toán xách tay của ông Hunter Biden, ngay cả trước khi câu chuyện của bà Devine được đưa lên báo.

Sau đó FBI đã sử dụng thông tin đó để cảnh báo Twitter (và có lẽ là các công ty truyền thông xã hội khác) hãy dự liệu về một loạt các “tin giả của Nga” để bỏ qua. Các công ty truyền thông xã hội này đã ngoan ngoãn chặn hàng chục triệu người dùng xem câu chuyện này sau khi bài báo đó được xuất bản. Khi câu chuyện này được đăng trên tờ New York Post, 51 quan chức tình báo đã về hưu đã đưa ra một tuyên bố công khai nói rằng ổ đĩa rời của ông Hunter Biden có “tất cả các dấu hiệu của một chiến dịch tin giả của Nga.”

Với sự y chuẩn của FBI và sự hỗ trợ của các quan chức cộng đồng tình báo đã về hưu, các công ty truyền thông như The New York Times, The Washington Post, và tất cả các mạng phát sóng truyền hình đều coi câu chuyện của New York Post là “giả.” Khỏi cần điều tra thêm, khỏi cần theo dõi tiếp, cũng không cần đánh giá độc lập nữa. Các hãng truyền thông lớn đã nói với độc giả, người xem, và người nghe của họ rằng nội dung trong ổ đĩa rời của ông Hunter Biden là “tin giả của Nga.” Đích thân ứng cử viên Joe Biden đã nhắc lại lời nói dối của giới truyền thông cùng FBI trong cuộc tranh luận với cựu Tổng thống Donald Trump trước hàng trăm triệu người xem. Ông Biden không chỉ nói dối người dân, mà còn tiếp tục vu khống rằng cựu Tổng thống Trump là một “tài sản của Nga” — một lời nói dối lâu năm do các đối thủ của cựu Tổng thống Trump tung ra vì “hồ sơ” giả mạo mà chiến dịch tranh cử của bà Hillary Clinton đã dựng lên trong cuộc đua tổng thống năm 2016.

Cần khôi phục lại niềm tin

Các tổ chức chỉ xứng đáng với niềm tin và sự tin tưởng của chúng ta nếu và trong chừng mực mà họ tuân thủ các điều lệ công khai của họ. Như tất cả những ai quan sát đều thấy rõ, các nhà quản lý của nhiều tổ chức Liên bang đã phản bội điều lệ của họ và phản bội người dân Hoa Kỳ. Quốc hội mới nên cắt ngân sách của tất cả các cơ quan này cho đến khi có một cuộc thanh lọc giới lãnh đạo, những người lạm dụng các thể chế này để theo đuổi các nghị trình chính trị theo đảng phái.

Chỉ khi chúng ta khôi phục niềm tin của công chúng vào các thể chế chính phủ và truyền thông từng là bất khả xâm phạm và đặt những người Mỹ ái quốc, những người sẽ tuân thủ Hiến Pháp lên làm lãnh đạo của các tổ chức này, thì chúng ta mới có thể bảo đảm an toàn cho nền cộng hòa.

Quan điểm trong bài viết này là của tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của The Epoch Times.


J.G. Collins
BTV Epoch Times Tiếng Anh
Ông J.G. Collins là giám đốc điều hành của Stuyvesant Square Consultancy, một công ty tư vấn chiến lược, khảo sát thị trường, và cố vấn tại thành phố New York. Các bài viết của ông về kinh tế, thương mại, chính trị, và chính sách công đã được đăng trên Forbes, New York Post, Crain’s New York Business, The Hill, The American Conservative, và các ấn phẩm khác.

Nhật Thăng biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc từ The Epoch Times

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn