Nguyên văn

瑩八歲,能詠詩,

泌七歲,能賦碁。

彼穎悟,人稱奇,

爾幼學,當效之。

Âm Hán Việt

Oánh bát tuế, Năng vịnh thi,

Bí thất tuế, Năng phú kỳ.

Bỉ dĩnh ngộ, Nhân xưng kỳ,

Nhĩ ấu học, Đương hiệu chi.

Tạm dịch

Tổ Oanh tám tuổi, ngâm được Kinh Thi,

Lý Bí bảy tuổi, làm thơ phú cờ.

Cả hai thông minh, gọi là kì lạ,

Bạn mới vào học, nên noi gương họ.

Từ vựng

(1) Oánh (瑩): chỉ Tổ Oánh, người Bắc Tề.

(2) Vịnh (詠): ngâm xướng, ca tụng.

(3) Bí (泌): chỉ Lý Bí, người triều Đường.

(4) phú (賦): trình bày tự thuật.

(5) kỳ (碁): cờ, quân cờ, cũng giống như chữ ‘kỳ’棋.

(6) bỉ (彼): họ, bọn họ, ở đây chỉ Tổ Oánh và Lý Bí.

(7) dĩnh ngộ (穎悟): thông minh.

(8) kỳ (奇): kỳ lạ, không tầm thường.

(9) nhĩ (爾): ngươi, bạn, các ngươi, các bạn.

(10) ấu học (幼學): người mới vào học.

(11) đương (當): nên, cần, phải.

(12) hiệu (效): làm theo, noi theo, học tập.

(13) chi (之): chỉ Tổ Oánh và Lý Bí.

Dịch nghĩa tham khảo

Tổ Oánh người thời Bắc Tề, lúc 8 tuổi có thể ngâm tụng “Kinh Thi”; Lý Bí triều Đường lúc 7 tuổi có thể mượn chủ đề chơi cờ để làm thơ nói rõ đạo lý. Tổ Oánh và Lý Bí dù cả hai còn nhỏ nhưng thông minh hơn người, mọi người đều tán thưởng họ là bậc kỳ tài. Các bạn là người mới vào học cần phải noi theo họ.

Đọc sách luận bút

Bài học này vẫn là khuyến khích học tập, nhưng quay lại lấy hai em bé làm ví dụ. Những bài trước nói rõ rằng nghịch cảnh nghèo khó và tuổi tác quá lớn quá muộn đều không phải trở thành cái cớ để không thể học tập, như vậy nhỏ tuổi phải chăng có thể trở thành lý do để không đọc sách không chăm học? Đương nhiên không thể được. Cho nên bài này đưa ra ví dụ về hai người từ nhỏ đã thông minh ham học để khuyến khích việc học tập.

Thông qua câu chuyện dưới đây, mọi người sẽ thấy rằng những người được gọi là Thần đồng này, mặc dù đầu óc nhanh nhẹn, năng lực lĩnh hội cao, nhưng điều quan trọng nhất vẫn là chuyên cần đọc sách. Vấn đề then chốt nhất là thái độ hiếu học kiên trì không ngừng, cho dù thông minh thế nào, nếu như không thể kiên trì bền bỉ mỗi ngày chịu khó đọc sách thì sẽ không có thành tựu. Cho nên điểm này mới là chỗ đáng giá nhất để học tập. Nếu như ngay cả Thần đồng thông minh như vậy cũng biết rằng từ nhỏ nên bắt đầu học tập đọc sách, đồng thời không dám lười biếng giải đãi, vậy những người bình thường chúng ta càng cần phải bắt đầu sớm, từ nhỏ nên trân quý thời gian, xác lập chí hướng.

Câu chuyện “Thánh tiểu nhi – Tổ Oánh”

Tổ Oánh thời Bắc Tề, từ nhỏ đã rất thông minh, tám tuổi đã có thể đọc thuộc “Kinh Thi” và “Thượng Thư”. Mười hai tuổi đã trở thành ‘thái học sinh’ (học sinh của học viện cao nhất thời đó), cũng được thầy chọn làm “Giảng sinh đồ” (học trò trợ giảng), giảng giải “Thượng Thư” cho những học sinh khác.

Tổ Oánh vô cùng chăm chỉ đọc sách, mỗi ngày từ sáng đến tối đều đọc không ngừng. Ông luôn cảm thấy thời gian ban ngày không đủ, bởi vậy thường ra sức học vào ban đêm. Cha mẹ ông vì chuyện này thường lo lắng, sợ ông kiệt sức, nhiều lần ngăn cản, không cho ông đọc sách vào ban đêm. Một hôm, cha mẹ ông bèn đem hết cọc đèn, chân nến trong nhà giấu đi. Tổ Oánh biết đó vì là cha mẹ không cho ông đọc sách đêm khuya, liền lặng lẽ giữ lấy cây củi cháy trong bếp lò rồi đắp lên trên một lớp tro mỏng. Đêm đến, ông gạt lớp tro ra, thổi đỏ than, lại dùng quần áo chăn mền che lên cửa sổ, không cho ánh sáng lộ ra. Cứ như vậy khắc khổ ra sức học hành, đọc nhiều sách vở.

Có một lần, bởi vì ông đọc sách rất khuya mới ngủ, ngày hôm sau tỉnh dậy đã quá giờ đi học. Ông vội vàng chạy tới trường, vừa đúng lúc đến lượt ông lên bục giảng giải “Thượng Thư”. Đang định mở sách thì mới phát hiện ra vì vội vàng nên đã mang nhầm sách, ông cầm sách “Khúc Lễ” của bạn học khác, mà cứ nghĩ đó là sách “Thượng Thư” rồi mang vào lớp. Nhưng ông đã đọc thuộc lòng ba bài liên tiếp trong sách “Thượng Thư” một cách ung dung điềm tĩnh, không sai sót một chữ nào. Thầy giáo và các bạn học sau khi phát hiện ra điều đó đều vô cùng kinh ngạc.

Vì sự thông minh và ham học của Tổ Oánh, bạn bè thân thiết đều gọi ông là “Thánh tiểu nhi” (ý là Thần đồng), cho rằng tương lai ông tất thành đại sự. Tổ Oánh quả nhiên sau đó đạt rất nhiều thành tựu trên con đường hoạn lộ. Ông được Hoàng Đế lúc bấy giờ khen ngợi, được phong làm Tiến sĩ thái học, Điện trung Thượng thư và Xa Kỵ đại tướng quân.

Câu chuyện “Lý Bí làm thơ”

Lý Bí triều Đường khi còn bé cũng rất thông minh, lúc bảy tuổi đã có thể viết văn làm thơ rất hay. Huyền Tông nghe nói có một Thần đồng như thế, liền hạ chiếu triệu kiến Lý Bí, muốn thử tài học của ông một chút. Lúc Lý Bí vào cung gặp vua, Huyền Tông đang cùng Yến quốc công Trương Thuyết chơi cờ vây, liền ra hiệu cho Trương Thuyết nhân dịp thử tài cậu bé một chút. Trương Thuyết liền ra đề là ‘chơi cờ’, muốn Lý Bí lấy bốn chữ “phương, viên, động, tĩnh” (vuông, tròn, động, tĩnh) làm một bài thơ, và đưa ra một ví dụ trước cho Lý Bí tham khảo: “Phương nhược kỳ cục, viên nhược kỳ tử, động nhược kỳ sinh, tĩnh nhược kỳ tử.” (Vuông như ván cờ, tròn như quân cờ, động như cờ sống, tĩnh như cờ chết). Lại hạn chế Lý Bí làm thơ không được dùng chữ “kỳ” (cờ).

Lý Bí nghe xong, ung dung thuận miệng ngâm một bài: “Phương như hành nghĩa, viên nhược dụng trí, động nhược sính tài, tĩnh nhược đắc ý.” Ý là: Vuông giống như thực hành nghĩa lý, tròn giống như dùng năng lực trí tuệ, động giống như phát huy tài năng, tĩnh giống như dáng vẻ tiếp thu ý nghĩa sâu xa. Huyền Tông nghe xong vô cùng kinh ngạc, vui mừng ôm ông vào lòng, liên tục khen ngợi ông thông minh, ban thưởng tại chỗ cho ông một bộ áo bào tím mà đại quan mới có thể mặc. Sau này Lý Bí quả nhiên làm Tể tướng.

Hơn nữa, ngoài học rộng biết nhiều, tương truyền Lý Bí còn rất mộ Tiên cầu Đạo, thường thường vân du đến núi Tung Sơn, Hoa Sơn và Chung Nam Sơn.

(Còn tiếp)


Bài viết đăng lại từ Chánh Kiến Việt ngữ.
Quý vị tham khảo bản gốc từ zhengjian.org

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn