Một nghiên cứu mở rộng gần đây cho thấy những đứa trẻ được sinh ra từ những người cha đang sử dụng loại thuốc tiểu đường phổ biến metformin có thể làm tăng nhẹ nguy cơ mắc một số dị tật bẩm sinh. 

Kết quả cho thấy trong số hơn 1 triệu trẻ sinh ra ở Đan Mạch, chỉ có hơn 3% bị một số loại dị tật bẩm sinh. Nhưng tỷ lệ đó là khoảng 5% ở những đứa trẻ có cha đã sử dụng metformin trong ba tháng trước khi thụ thai.

Theo báo cáo được công bố ngày 28/03 trên tạp chí Annals of Internal Medicine, loại thuốc này đặc biệt liên quan đến nguy cơ dị tật bẩm sinh ở bộ phận sinh dục cao hơn, tất cả đều ở các bé trai. 

Các chuyên gia nhấn mạnh rằng nghiên cứu không chứng minh metformin là nguyên nhân gây bệnh, và chưa có cơ chế nào để giải thích mối liên quan. Và học cho biết thêm rằng nam giới không nên ngừng sử dụng thuốc của họ dựa trên một nghiên cứu duy nhất.

Nhà nghiên cứu cấp cao Tiến sĩ Michael Eisenberg, giáo sư tiết niệu tại Trường Đại học Y Stanford ở California cho biết: “Chúng tôi biết metformin có tác dụng tốt trong việc kiểm soát bệnh tiểu đường.

Nhưng những kết quả trên thực sự đưa ra một “tín hiệu” cần được nghiên cứu thêm, Eisenberg nói. Ở cấp độ rộng hơn, nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu được ảnh hưởng của người cha đối với nguy cơ dị tật bẩm sinh.

Metformin là một loại thuốc uống được sử dụng rộng rãi để kiểm soát lượng đường trong máu cao ở những người mắc bệnh tiểu đường type 2. Đây là một căn bệnh phổ biến thường liên quan đến béo phì.

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ, chỉ riêng tại Hoa Kỳ, hơn 37 triệu người mắc bệnh tiểu đường, hầu hết trong số họ là type 2. Mặc dù bệnh phổ biến nhất ở những người trên 45 tuổi, nhưng cơ quan này cho biết, bệnh tiểu đường type 2 đang ngày càng được chẩn đoán nhiều hơn ở những người trẻ hơn và thậm chí cả trẻ em và thanh thiếu niên.

Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng khi phụ nữ mang thai bị bệnh tiểu đường khó kiểm soát, nguy cơ dị tật bẩm sinh của con họ sẽ tăng lên. 

Trong khi đó, một số nghiên cứu đã cho thấy mối liên quan giữa bệnh tiểu đường ở nam giới với chất lượng tinh trùng kém hơn. Nhưng vẫn chưa rõ liệu bệnh tiểu đường của các ông bố có liên quan đến tỷ lệ dị tật bẩm sinh ở con của họ hay không. 

Eisenberg nói rằng ngay cả khi đó, một câu hỏi quan trọng sẽ là liệu đó có phải là do bệnh tiểu đường hay do các loại thuốc điều trị bệnh? 

Đối với nghiên cứu mới này, các nhà nghiên cứu đã tìm đến sự giúp đỡ của cơ quan đăng ký khai sinh quốc gia của Đan Mạch để phân tích dữ liệu trên hơn 1 triệu trẻ sinh ra từ năm 1997 đến năm 2016. 

Các nhà điều tra phát hiện ra rằng khi các ông bố sử dụng metformin trong vòng 3 tháng trước khi thụ thai, trung bình nguy cơ dị tật bẩm sinh của con họ cao hơn khoảng 40% so với toàn bộ nhóm nghiên cứu.

Có một mối liên quan đặc biệt giữa các dị tật bẩm sinh bộ phận sinh dục với các bé trai: Trong số tất cả những đứa trẻ có cha sử dụng metformin trong ba tháng trước khi thụ thai, 0,9% bị dị tật bẩm sinh bộ phận sinh dục, so với chỉ hơn 0,2% của nhóm nói chung. 

Eisenberg nói rằng khoảng thời gian cửa sổ ba tháng là rất quan trọng, bởi vì tinh trùng mất khoảng thời gian dài như vậy để phát triển. 

Các nhà nghiên cứu đã đào sâu vào các yếu tố khác có thể giải thích mối liên quan, bao gồm tuổi tác, trình độ học vấn và thói quen hút thuốc của cha mẹ. Nhưng việc sử dụng metformin của các ông bố vẫn gắn liền với nguy cơ dị tật bẩm sinh.

Và điều này vẫn còn để lại cho chúng ta câu hỏi liệu đó là do thuốc hay bệnh tiểu đường. 

Eisenberg cho biết đã có một số ý kiến phản đối chống lại quan điểm đó. Thứ nhất, không có mối liên quan rõ ràng giữa dị tật bẩm sinh và việc sử dụng metformin của người cha trong năm trước hoặc sau thời điểm cửa sổ trước khi thụ thai ba tháng. 

Các nhà nghiên cứu cũng xem xét hai loại thuốc điều trị tiểu đường khác được các ông bố sử dụng trong nghiên cứu: insulin và sulfonylureas. 

Sử dụng insulin không liên quan đến dị tật bẩm sinh, trong khi tỷ lệ dị tật bẩm sinh tăng cao khi các ông bố sử dụng sulfonylurea. Nhưng phát hiện này không “có ý nghĩa thống kê” khi các nhà nghiên cứu xem xét cả các yếu tố khác. Điều này có nghĩa sự liên quan có thể là do ngẫu nhiên. 

Tuy nhiên, một chuyên gia không tham gia vào nghiên cứu cho biết phát hiện về metformin cũng có thể dễ dàng là do ngẫu nhiên, hoặc “nhiễu” do các yếu tố khác.

Tiến sĩ Anthony Scialli là một thành viên của Tổ chức các chuyên gia thông tin về Quái thai. Tổ chức này điều hành dịch vụ MotherToBaby, cung cấp miễn phí thông tin dựa trên nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc khi mang thai. 

Scialli giải thích rằng nghiên cứu đã thực hiện nhiều so sánh khác nhau, điều này làm tăng tỷ lệ phát hiện may rủi. Ngoài ra, ông nói, các yếu tố di truyền có thể ảnh hưởng [đến dị tật bẩm sinh]. 

Scialli lưu ý rằng các dị tật bẩm sinh bộ phận sinh dục ở các bé trai chủ yếu là tật lỗ tiểu thấp, lỗ niệu đạo nằm ở mặt dưới của dương vật chứ không phải ở đầu. Và ông cho biết lỗ tiểu thấp thường mang tính di truyền trong gia đình. 

Các nhà nghiên cứu đã thực hiện một phép so sánh để cố gắng giải thích cho yếu tố di truyền: Họ phát hiện ra rằng trẻ sơ sinh có cha sử dụng metformin có tỷ lệ dị tật bẩm sinh cao hơn so với anh chị em ruột nhưng người cha không sử dụng metformin [trước khi thụ thai]. 

Nhưng, Scialli cho biết, sự khác biệt đó không có ý nghĩa thống kê một khi các nhà nghiên cứu điều chỉnh các biến số (yếu tố) khác.

Scialli nói: “Vì vậy, cả yếu tố ngẫu nhiên và nhiễu đều có thể giải thích những kết quả này. Nguyên nhân dường như không chắc chắn do thiếu một cơ chế hợp lý.”

Eisenberg đồng ý rằng cơ chế này vẫn chưa được biết và cần phải nghiên cứu thêm. Ông cũng cho biết những phát hiện này cần được nhân rộng ở các quốc gia khác, bao gồm cả những quốc gia đa dạng hơn Đan Mạch (mang tính tương đối đồng nhất). 

Eisenberg nói, điểm quan trọng hơn không nên bỏ qua là sức khỏe và sự phơi nhiễm của các ông bố, cũng như tác động tiềm tàng của họ đối với con cái của họ. 

“Sức khỏe của những người cha cũng quan trọng.”

MotherToBaby cung cấp nhiều thông tin hơn về việc phơi nhiễm của các ông bố và quá trình mang thai. 

Amy là một nhà báo y khoa từ năm 1999. Cô là tác giả và biên tập viên cho tạp chí Physician’s Weekly, Medical Tribune và Reuters Health, đồng thời viết về sức khỏe và y học cho MSNBC, The Scientist, Prevention và các ấn phẩm khác. Khi không viết bài, cô dạy yoga hoặc khiêu vũ.

Bài báo này ban đầu được xuất bản trên trang HealthDay.

Thiên Vân biên dịch
Quý vị tham khảo bản gốc tại The Epoch Times

Chia sẻ bài viết này tới bạn bè của bạn